Thời kỳ này từ năm đầu Thượng Nguyên (760) đến năm Đại Lịch thứ 5 (770). Trong vòng 11 năm này thì tám chín năm ông ở đất Thục, sau đó ở Kinh Tương hai ba băm, viết khoảng một ngàn bài thơ, chiếm hai phần ba Đỗ công bộ tập. Lúc này Thành Đô chưa bị binh đao, ông có những ngày thư thái tập trung vào thơ ca. Năm đầu Thượng Nguyên ông dựng Thảo Đường tại Hoán Hoa khê, Thành Đô sau 4 năm lưu lạc. Cuối năm sau (761), cố giao của ông là Nghiêm Vũ nhậm Thành Đô doãn kiêm Ngự sử trung thừa, giúp đỡ ông rất nhiều. Tháng 7 năm đầu Bảo Ứng (762), Nghiêm Vũ được triệu nhập triều, ông lưu vong tới Tử Châu, Lãng Châu.
Mùa xuân năm Bảo Ứng thứ 2, loạn An Sử kết thúc nhưng trong nước cục diện hỗn loạn, lại thêm giặc Thổ Phồn bắt đầu xâm nhập. Mùa xuân năm Quảng Đức thứ 2 (764), Nghiêm Vũ lại nhậm Thành Đô doãn kiêm Kiếm Nam tiết độ sứ, Đỗ Phủ về lại Thành Đô được cất nhắc làm Tiết độ tham mưu, Kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang. Ông ở mạc phủ Thành Đô tiết độ sứ trong vòng vài tháng rồi do không quen sinh hoạt trong phủ, về lại Thảo Đường.
Năm đầu Vĩnh Thái (765), Đỗ Phủ mang gia nhân rời Thảo Đường dùng thuyền xuống phía đông, tới tháng 9 thì đến Vân An, do bệnh tật không đi tiếp được. Mùa xuân năm sau bệnh bớt, ông tiếp tục tới Quỳ Châu và ở đó chưa đầy hai năm nhưng sáng tác rất phong phú, làm hơn 400 bài thơ.
Tháng giêng năm Đại Lịch thứ 3 (768), ông lại tiếp tục lên đường, muốn trở lên bắc về Lạc Dương nhưng do Hà Nam binh loạn không đi được. Tháng 3, tới Giang Lăng và trú lại nửa năm, cuối năm tới Nhạc Dương. Trong hai năm cuối đời tiếp theo, ông sống lưu lạc trong cảnh bệnh tật thê lương, qua Nhạc Dương, Trường Sa, Hành Châu, Lỗi Dương, đa số thời gian ở trên thuyền. Ông mất vào mùa đông năm Đại Lịch thứ 5 (770).
Thời kỳ này từ năm đầu Thượng Nguyên (760) đến năm Đại Lịch thứ 5 (770). Trong vòng 11 năm này thì tám chín năm ông ở đất Thục, sau đó ở Kinh Tương hai ba băm, viết khoảng một ngàn bài thơ, chiếm hai phần ba Đỗ công bộ tập. Lúc này Thành Đô chưa bị binh đao, ông có những ngày thư thái tập trung vào thơ ca. Năm đầu Thượng Nguyên ông dựng Thảo Đường tại Hoán Hoa khê, Thành Đô sau 4 năm lưu lạc. Cuối năm sau (761), cố giao của ông là Nghiêm Vũ nhậm Thành Đô doãn kiêm Ngự sử trung thừa, giúp đỡ ông rất nhiều. Tháng 7 năm đầu Bảo Ứng (762), Nghiêm Vũ được triệu nhập triều, ông lưu vong tới Tử Châu, Lãng Châu.
Mùa xuân năm Bảo Ứng thứ 2, loạn An Sử kết thúc nhưng trong nước cục diện hỗn loạn, lại thêm giặc Thổ Phồn bắt đầu xâm nhập. Mùa xuân năm Quảng Đức thứ 2 (764), Nghiêm Vũ lại nhậm…
Tại sao lại là “phiêu bạc” mà không phải là “phiêu bạt”? Ngoài ra trong quy định viết hoa trong tiếng Việt thì “tây nam” đáng nhẽ phải viết hoa là “Tây Nam”
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
“Phiêu bạc” là từ gốc Hán có nghĩa là trôi nổi (phiêu) ghé đậu (bạc) nay đây mai đó. Nhiều người lẫn với chữ “bạt” cũng có nghĩa là bị đẩy đi, dạt đi.
Chính tả tiếng Việt không viết hoa từ chỉ phương hướng, trừ khi nó gắn với tên địa phương, như Hà Tây.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Ừm, do hiểu biết còn non kém nên mình không biết đến từ “phiêu bạc”. Cảm ơn bạn nhiều. Tuy nhiên từ về phương hướng mình thấy có quy định mà:
Tên địa lý chỉ một vùng, miền, khu vực nhất định được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với từ chỉ phương thức khác: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi. Đối với tên địa lý chỉ vùng miền riêng được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với danh từ chỉ địa hình thì phải viết hoa các chữ cái đầu mỗi âm tiết.
VD: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ
Nguồn:
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.