Bình luận nhanh 1

Nguyễn Công Tuấn01/07/2020 16:54
Dịch thơ của Đỗ Phủ Bài: BỒI BÙI SỨ QUÂN ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU Nguyên văn: Hồ khoát kiêm vân vụ, Lâu cô thuộc vãn tinh. Lễ gia từ Nhụ Tử, Thi tiếp Tạ , Tuyên Thành. Tuyết ngạn tùng mai phát, Xuân nê bách…

陪裴使君登岳陽樓

湖闊兼雲霧,
樓孤屬晚晴。
禮加徐孺子,
詩接謝宣城。
雪岸叢梅發,
春泥百草生。
敢違漁父問,
從此更南征。

 

Bồi Bùi sứ quân đăng Nhạc Dương lâu

Hồ khoát kiêm vân vụ,
Lâu cô thuộc vãn tình.
Lễ gia Từ Nhụ Tử,
Thi tiếp Tạ Tuyên Thành.
Tuyết ngạn tùng mai phát,
Xuân nê bách thảo sinh.
Cảm vi ngư phụ vấn,
Tòng thử cánh nam chinh.

 

Dịch nghĩa

Hồ rộng kèm mây mù,
Lầu cô quạnh trong buổi chiều tạnh.
Về lễ, có thêm được người như Từ Nhụ Tử,
Kể về thơ như được tiếp ông họ Tạ ở Tuyên Thành.
Khóm mai bên bờ nở trắng như tuyết,
Trăm thứ cỏ tươi mọc nơi bùn.
Dám trái với lời hỏi của ông câu,
Theo đó bèn đi về miền nam.


(Năm 769)

Nhạc Dương lâu ( 29.382,113.094): Nhạc Dương lâu 岳陽樓 là một toà lầu tháp ở cửa Tây thành Nhạc Dương, quận Ba Lăng, tỉnh Hồ Nam, bên bờ hồ Động Đình, và là một trong Tứ đại danh lâu của Trung Quốc, và là một trong một trong Giang Nam tam đại danh lâu (hai lầu còn lại là Đằng Vương các và Hoàng Hạc lâu). Đây vốn là lầu duyệt quân của đại tướng Lỗ Túc 鲁肃 (171-217) của Đông Ngô thời Tam Quốc. Năm Kiến An thứ 20 (215), Tôn Quyền cùng Lưu Bị tranh giành Kinh Châu, đại tướng Lỗ Túc dẫn quân đóng tại vùng chiến lược là Ba Khâu, tại hồ Động Đình thao luyện thuỷ quân, nhân đó cho xây đắp thành Ba Khâu. Tại khu vực ven hồ Động Đình, ông cho xây dựng một lầu để kiểm duyệt thuỷ quân. Từ trên lầu có thể trông thấy quang cảnh khắp hồ hồ Động Đình, ngọn núi Quân Sơn ở bên trái phía bên kia bờ hồ, cảnh sắc vô cùng đẹp đẽ. Thời Tấn và Nam Bắc triều, lầu đổi tên thành Ba Lăng thành lâu. Nhan Duyên Chi có bài thơ Đăng Ba Lăng thành lâu viết về lầu này. Thời Đường, lầu được gọi là Nhạc Dương lâu. Do vùng đất Nhạc Châu nối liền nam bắc, lại có nhiều thắng cảnh lầu, đài nên nhiều thi nhân thường xuyên tới đây. Năm Khai Nguyên thứ 4 (716), trung thư lệnh Trương Duyệt 張說 (667-730) bị biếm quan về Nhạc Châu, thường hội họp văn nhân lên lầu ngâm vịnh thơ. Nhiều thi nhân nổi tiếng như Trương Cửu Linh, Mạnh Hạo Nhiên, Giả Chí, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hàn Dũ, Lưu Vũ Tích, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn từng tới đây và ngâm vịnh, trong đó có bài Đăng Nhạc Dương lâu là một tuyệt tác của Đỗ Phủ. Năm Khánh Lịch thứ 4 (1044) đời Tống Nhân Tông, Đằng Tông Lượng 滕宗諒 tự Tử Kinh 子京, đồng bảng tiến sĩ và là bạn tâm giao của Phạm Trọng Yêm, nguyên làm chức tư giản trong triều, vì tiểu nhân ghen ghét nên bị vu cáo là lạm dụng tiền công sứ, phải giáng chức trích ra làm quan thái thú quận Ba Lăng. Năm sau ông cho trùng tu Nhạc Dương lâu và mời Phạm Trọng Yêm sáng tác Nhạc Dương lâu ký, Tô Đông Pha viết bài ký trong lòng bia, Triệu Sơ viết chữ triện trên trán bia, đương thời khen là tứ tuyệt. Bài ký của Phạm Trọng Yêm nổi tiếng với lý tưởng chính trị mà ông thể hiện trong câu “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” 先天下之憂而憂,後天下之樂而樂 (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

Nhạc Dương lâu
Hình: Nhạc Dương lâu

Toàn cảnh Nhạc Dương lâu nhìn ra hồ Động Đình
Hình: Toàn cảnh Nhạc Dương lâu nhìn ra hồ Động Đình

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Hồ rộng thêm mây khói,
Lầu vắng ánh chiều tà.
Từ Nhụ Tử thêm lễ,
Tạ Tuyên Thành tiếp thơ.
Trăm cỏ lan bùn mới,
Khóm mai nở trắng bờ.
Dám trái lời ngư phụ,
Vùng nam cứ đi vô.


tửu tận tình do tại
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Kèm mây mù hồ mênh mông rộng
Bước lên lầu cô quạnh buổi chiều
Lễ thêm Nhụ Tử họ Từ
Tưởng như họ Tạ tiếp thơ Tuyên Thành
Mai nở ngoài bờ thành phủ tuyết
Trăm cỏ xuân tươi tốt nơi bùn
Trái lời ngư phủ bảo ban
Thành ra lại hướng phía nam đi về.


15.00
Trả lời