Tiết giữa kim thiên, luật vừa di tắc,
Nam mây ánh đan tiêu rỡ rỡ,
Bốn bề vây ngọc chúc làu làu.
Việc thừa thiên gìn trị quốc trị dân.
Vô tư vốn giơ gương nhật nguyệt.
Đường lý chính kiêm dùng văn dùng võ.
Hữu đạo gắng nối phép tổ tông,
Dữ Mân phong đà lần nghị mấy chương.
Thiết nông sự khắp trải tường đòi chốn.
Nghĩ chữ vu du vu dật, dám lãi trường răn trước Chu Vương.
Ngâm câu hà trợ hà hưu, hằng áy náy lời xưa hạ ngạn.
Đạo khuông trực phen đời thuần cổ,
Tuần yến thanh theo dấu tỉnh phương.
Cốc đán trạch nên cương thìn hợp phát.
Nghiêm hiệu lệnh nhạn hàng mấy đội, chưng lưng phấp phới chèo lan.
Rợp tinh kỳ quyến phẳng ngàn tầm, dức dấy vẫy vùng duềnh Nhị.
Nhòm cơ tạo diên ngư tính thuận,
Hay đạo trung phí ẩn lý mầu.
Thiên lãng khí thanh, cảnh sắc một nhìn một lạ,
Dân thuần tục hậu, phong lưu càng trải càng ưa.
Bãi phau phau Thiên Đức vừa ngang.
Duềnh phá phá Xuân Canh chợt khỏi.
Đưa phong hoa chèo tuyết nguyệt.
Bến Phú Gia mẽ chốn Tầm Dương; vui thi lễ, dấy huyền ca.
Áng Đông Ngạc vốn nguồn Chu Tứ; cờ phơi phới kìa doanh đồn thú.
Thuyền chen chen nọ chợ thông thương.
Danh để còn thơm, độ bề thẳng tới.
Đàm kinh mộng cũ, bến Vĩnh Khang tìm hỏi chúng họ Nhi.
Vịnh sử lời xưa, làng Thuỵ Hương hãy di truyền cố lão.
Hương hoả soi trời Nam dắc dắc,
Uy danh lừng đất Bắc nhơn nhơn.
Võng La sang ngọ làu còn,
Trưa [?] mai đống tịch dương chưa xế.
Độ Bồng Lai bãi dài sông phẳng.
Kìa ghềnh Vàng sang họp chợ Đông.
Miền các sa sóng lặng nguồn thanh.
Nọ cửa Hát đất thiêng nhà trạm.
Đòi Phù trung coi sang Phúc Lộc,
Chừng địch vi đoái lại Từ Liêm.
Lượng sức chèo lên khắp cả bến Phùng,
Nhân dòng thuận thoắt đến vời Vũng Hiệp.
Khí huân cao đền xưa Yên Sở,
Linh ứng từng hộ quốc hộ dân.
Nước [...] tiện Thuỵ Khuê,
Hình trạng có kỳ sơn kỳ thuỷ.
Cảnh hư vô khôn dạm,
Đồ thắng lệ sẵn bày.
Thiên Phúc tự thiTrùng chập xây thạch bích lừng chừng,
Mấy chốn tùng lâm khắp trải qua,
Nơi nơi viên tĩnh [?] tiên gia.
Non xanh gió cuốn mùi ưu bát,
Gác thẳm chuông đưa [?] Pháp hoa.
Bóng hiên long trì song nhật nguyệt,
Đồ phi bích động rỡ yên hà.
Linh thông dấu hãy còn đinh ninh,
Nghiệm trước hình dung vẫn chẳng ngoa.
Cắc Cớ thiVọi vọi quang nghi, bỡ ngỡ ánh lâu đài nhật nguyệt,
Nên đích đương thú kỳ dị,
Chiếm thanh u khéo khắt khe.
Hở hiên mai, xuyên bóng quế,
Xông cửa ngọc, nức mùi lê.
Tầng thạch kính in toà đấu,
Trứ liên đài dãi vẻ Khuê.
Trác tích cảnh này đấng ấy,
Độ bể dâu dễ phiên bì.
Đồng Lư, Kỳ Ngộ tự thiCảnh hữu tình di quyến,
Gặp triều cường thuận gió đưa,
Mệnh danh Kỳ Ngộ cảnh Đồng Lư.
Nước non gấm sắc danh kham lạ,
Hoa cỏ xuân dung chỉn khéo ưa.
Trên chiếm thanh cao, dầu đủng đỉnh,
Dưới vầy thú vị, mặc thừa lưa.
Tuồng ni ắt thể càng linh ứng,
Lộc tự nhiên thêm có có dư.
Nhạc Lâm tự thiTrông trước mặt dẫy nhà tướng trọng,
Mảng vui thiên phúc cảnh thiên thành,
Ngoạn thưởng âu nơi thích tính tình.
Thơn thớn nhân cơ trông vọi vọi,
Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh.
Trời xuân vặc vặc hoa cài cửa,
Gió thuỵ hây hây nguyệt giãi mành.
Trong thuở tỉnh phương buồm thuận tới,
Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình.
Trú Tử Dương thiĐòi thú ở bến Liễu dùng dằng,
Trải qua ngoạn vị trong phong thái,
Cảnh trí xem đây dường khả chí.
Uyển nguyệt giăng la nước hiến châu,
Cài châm giắt ngọc non trình thuỵ.
Đùn đùn trùng trập kể thiên hình,
Lẻo lẻo oanh hoàn kiêm vạn thế.
Cổ lâm tuyền có thị triền,
Luận danh ắt xưng danh vô ngã.
Trú Kiện Khê thiChốn thu nguyên uỷ,
Lợt lợt muôn ngàn bao xiết kể,
Chiều người ở bấy nơi giai chí.
Non bày giáp ất dễ phen bì,
Nước uốn chi huyền khôn đọ ví.
Khói tạnh mây thu tỏ ngọc lam,
Duềnh thanh sóng phẳng trông gương quế.
Kìa kìa Tản Lĩnh nọ Nam Công,
Thẳng thưởng đây nền xuân phú quý.
Kinh Tiên sơn thi
Tạo thành vốn sẵn từ thiên địa,
Vẹn thiểu đông nên vơi cảnh trí.
Trùng trập thêm cao rợp Tản mây,
Dồi dào mặc hứng đua chèo quế.
Kìa ngàn bích ngọc mẽ phong yêu,
Nọ dải thanh la dường yến vĩ.
Viễn cận thu về một bản đồ,
Quải bày kiện kiện làm nghi vệ.
Mãn Nguyệt tự thiThuỵ lôi còn di suốt mấy cồn,
Mảng danh linh ứng chốn hương thành,
Tựu Lãnh so xem ý cũng hình.
Song cửa từ nhân thông lộng lộng,
Mở đường tế độ rộng vênh vênh.
Suối tuôn nguồn đạo thanh niềm tục,
Gió ruổi cầm xuân lặn tiếng kình.
Công đức trập trùng cao vọi vọi,
Dấu xưa chung khí hãy đinh ninh.
Kinh Quyển sơn thiTrưa cả từ Kim Bảng éo le thay, kìa kìa tỏ dáng Cổ Bồng.
Đâu rằng kỳ, đâu rằng dị,
Nơi nơi vẫn có chừng cao chí.
Dòng thanh kính nguyệt khéo in soi,
Vách lục bình phong khôn mạc vẽ.
Non nhiễu bôn đằng nữa mã hình,
Nước oanh uỷ khúc hơn xà thế.
Muôn khê nghìn hác một triều tuôn,
Cùng hướng thần kinh phù tộ khoẻ.
Cổ Bồng thi
Xuân thu trải mấy trong canh kỷ,
Vẳng vẳng bầu nung nên nhất chí.
Vách dựng thanh cao bức chướng bình,
Thú nhiều trợ trát duềnh Kinh Vị.
Trùng trùng giao hội rập nguồn đầu,
Cuộn cuộn trường lưu thông hải vĩ.
Rộng hẹp khen thay khéo tạo đoan,
Bút thiêng khôn dạm nên hình thế.
Kẽm Trống thiĐường thông thuỷ lục,
Qua Cổ Bồng già một lý,
Tới đây ngẫm lại càng thêm chí.
Dẫy tuôn thác thác khắp đi về,
Mở khép song song cùng đối trĩ.
Thạch bích mây lồng rất tú thanh,
Giang lưu long nhiễu thêm kỳ dị.
Trong hình thế thắng vốn tự nhiên,
Tạo hoá khéo bày nơi hiểm dị.
Dục Thuý sơn phong cảnh thiKhăn khắn mười phần kinh ái,
Đăng cao dụng hứng bút nhân đề,
Nhân trí gồm hai rất éo le.
Châm kết bên xanh lồng bóng thỏ,
La giăng khói lục chấp hương nghê.
Một bầu bạch ngọc hằng in dãi,
Mấy điểm tri trần chẳng phen hề.
Ngẫm sức an bài mầu nhiệm bấy,
Trời Nam đệ nhất thú thanh kỳ.
Nhãn tiền cảnh trí thi tứ thủCòn bàn bạc trí nhân thú lạ,
Áng nhân sơn nguồn trí thuỷ,
Trùng trùng thanh tú gồm sơn thuỷ.
Thuỷ tuyền muôn phái dẫn quần sơn,
Sơn nhiễu ngàn hàng bao chúng thuỷ.
Thuỷ ánh vầng hồng dãi hiểu sơn,
Sơn in bóng quế lồng thu thuỷ.
Sơn sơn thuỷ thuỷ khéo khoẻ đòi,
Thu lại một đồ sơn hợp thuỷ.
Chiều thu hiu hắt chiều thu
Heo may thoang thoảng lời ru lỡ làng
Hàng Phong màu lá úa vàng
Sắc hồng chen đỏ phai tàn rụng rơi
Hồn em lơ lửng chơi vơi
Về qua ngõ vắng lẻ loi bóng người
Tường mây phong kín nửa đời
Đôi môi lạnh nhạt bên trời tha hương
Mắt xanh chừng lắm tơ vương
Trông qua vũ trụ nhớ thương xa vời
Bên thềm đất lạnh đơn côi
Hình hài tan biến giữa trời đau thương
Hàng Phong chen chúc khói sương
Thu đi,thu đến vấn vương gót ngà
Gió về lạnh lẽo sương sa
Tình câm ai biết đâu mà tỏ phân
Lá vàng phủ kín ngoài sân
Tìm đâu ra được dấu chân vô hình
Bao thu mòn mỏi đợi tin
Tường mây kia vẫn vô tình ngăn đôi
Em đi nhặt lá Phong rơi
Ép vào trang giấy gởi người phương xa
Mai rồi thu có phôi pha
Lá Phong tình vẫn đậm đà hương thu
Chiều nay sớm có sương mù
Hàng Phong cất tiếng vi vu gọi hồn
Mắt em mờ mịt nỗi buồn
Lạnh lùng mây trắng chập chờn nơi nơi
Vây quanh dáng đứng đơn côi
Ngậm ngùi em bước lẻ loi giữa đời
Triền miên nửa kiếp mơ rồi
Trong cơn mê tỉnh đầy vơi giọt sầu
Santa Ana, CA
Oct 15, 1994