Thông báo, tin tức mới nhất

Thơ mới: Hạ tân lang - Thậm hỹ ngô suy hỹ (Tân Khí Tật)

賀新郎-甚矣吾衰矣

甚矣吾衰矣。
悵平生、
交遊零落,
只今餘幾。
白髮空垂三千丈,
一笑人間萬事。
問何物、
能令公喜。
我見青山多嫵媚,
料青山、
見我應如是。
情與貌,
略相似。

一尊搔首東窗裏。
想淵明、
停雲詩就,
此時風味。
江左沈酣求名者,
豈識濁醪妙理。
回首叫、
雲飛風起。
不恨古人吾不見,
恨古人、
不見吾狂耳。
知我者,
二三子。

 

Hạ tân lang - Thậm hỹ ngô suy hỹ

Thậm hỹ ngô suy hỹ,
Trướng bình sinh,
Giao du linh lạc,
Chỉ kim dư kỷ.
Bạch phát không thuỳ tam thiên trượng,
Nhất tiếu nhân gian vạn sự.
Vấn hà vật,
Năng linh công hỉ.
Ngã kiến thanh sơn đa vũ mị,
Liệu thanh sơn,
Kiến ngã ứng như thị.
Tình dữ mạo,
Lược tương tự.

Nhất tôn trảo thủ đông song lý.
Tưởng Uyên Minh,
Đình vân thi tựu,
Thử thì phong vị.
Giang Tả thẩm hàm cầu danh giả,
Khởi thức trọc lao diệu lý.
Hồi thủ khiếu,
Vân phi phong khởi.
Bất hận cổ nhân ngô bất kiến,
Hận cổ nhân,
Bất kiến ngô cuồng nhĩ.

Tri ngã giả,
Nhị tam tử.

 

Hạ tân lang - Ta đã thật già rồi (Người dịch: Như Quy)

Than ôi, ta già bấy!
Ngậm ngùi thay,
Bạn đời rơi rụng,
Đến nay còn mấy?
Tóc bạc buông không ba nghìn trượng,
Cười nhẹ việc đời hết thảy.
Hỏi nào vật,
Khiến lòng thư thái?
Thuỳ mị non xanh xinh rộng trải,
Chắc non xanh,
Nhìn ta cũng thấy.
Tình với dáng,
Tương tự đấy.

Chén rượu vò đầu song đông mãi.
Nhớ Uyên Minh,
Đình vân vừa viết,
Phong vị khi ấy.
Những kẻ cầu danh nơi Giang Tả,
Há hiểu rượu thô mê mải.
Ngoảnh đầu gọi,
Gió mây vùng dậy.
Chẳng tiếc cổ nhân ta không gặp,
Tiếc cổ nhân,
Chẳng thấy ta cuồng dại.
Hiểu ta nổi,
Dăm ba vậy.


Tiểu dẫn: “Ấp trung viên đình, bộc giai vi phú thử từ. Nhất nhật, độc toạ Đình Vân, thuỷ thanh sơn sắc, cạnh lai tương ngu. Ý khê sơn dục viện lệ giả, toại tác sổ ngữ, thứ kỷ phảng phất Uyên Minh tư thân hữu chi ý vân.” 邑中園亭,仆皆為賦此詞。一日,獨坐停雲,水聲山色,競來相娛。意溪山欲援例者,遂作數語,庶幾仿佛淵明思親友之意云。 (Ở các đình đài vườn tược trong huyện ta đều viết một bài từ điệu này. Một ngày, khi ngồi một mình ở lầu Đình Vân, thấy xung quanh là sắc núi xanh, tiếng nước chảy, thật xinh đẹp biết bao, làm người ta vui tai vui mắt. Ta nghĩ rằng chốn sơn thuỷ này cũng muốn được noi theo lệ ấy, bèn viết vài lời, hy vọng giống được vài phần của Uyên Minh khi nhớ bạn.)

Bài từ này được viết vào mùa xuân năm đầu Gia Thái (1201) đời Tống Ninh Tông. Thời điểm này đã cách bảy năm kể từ khi Tân Khí Tật bị bãi chức Phúc Kiến an phủ sứ vào mùa thu năm Thiệu Hy thứ 5 (1194). Ở huyện Duyên Sơn, Tín châu, ông cất một ngôi nhà mới ở phía đông bến đò Kỳ Tư, kế bên Biều Tuyền, xây thêm một số đình viện. Trong số đó có Đình Vân đường được đặt tên theo bài thơ Đình vân của Đào Uyên Minh. Bài từ này được viết khi ông đang ở lầu Đình Vân ngắm phong cảnh rồi nhớ về những người bạn cũ.

 

Thơ thành viên mới: Trong tấm ảnh mẹ chụp (Huỳnh Nguyễn Anh Phương)

Trong tấm hình mẹ chụp
Bé mặc đầm thật xinh
Khi ngồi vào bàn học
Lúc múa ca hết mình

Trong tấm hình mẹ chụp
Vàng nắng sớm lung linh
Em trai đang say giấc
Vươn vai đón bình minh

Trong tấm hình mẹ chụp
Sum họp cả gia đình
Cành mai vàng khoe sắc
Mừng ngày xuân quây quần

Trong tấm hình mẹ chụp
Hai chị em nô đùa
Bắt trọn từng khoảnh khắc
Yêu thương suốt bốn mùa

Trong tấm hình mẹ chụp
Những trang giấy chữ đầy
Bao la là tài liệu
Với những bài toán hay

Bé hồn nhiên thắc mắc:
“Sao mẹ ít lên hình?”
Chỉ vài tấm với bé
Với đồng nghiệp, học sinh

Mẹ mỉm cười giải đáp:
“Mẹ ngại ‘lên sóng’ mà!”
Bé “à” lên một tiếng:
“Để con tìm cách nha!”

Đúng rồi! Trong mắt bé
Có bóng mẹ chụp hình
Vậy là mẹ cùng bé
Xuất hiện đầy lung linh!

Trích diễm

Sớm mai nào như sớm mai hồng,

Nắng mới về chao vạt nắng trong.

Rơi tờ lịch cũ chân em bước,

Cỏ nép vào hoa vẫy lá mừng.

–– Phút sang mùa (Trần Ngọc Hưởng)

Kỷ niệm ngày sinh, mất

Tác giả mới

Thơ Việt mới

Thơ dịch mới

Thơ thành viên mới

Diễn đàn

 

Tiêu điểm

Đặng Bá Tiến Chính Văn, Phan Vũ, Hoài An

Đặng Bá Tiến
Đặng Bá Tiến sinh năm 1952, là nhà báo, nhà thơ, sinh tại thị trấn Phăng Khôn, La Khon, Thái Lan, quê xã Sơn Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam.
Edward Estlin Cummings (thường viết: e. e. cummings, 14/10/1894 - 3/9/1962) là nhà thơ, hoạ sĩ, nhà soạn kịch, nhà văn Mỹ, tác giả của hơn 900 bài thơ, nhiều vở kịch, tác phẩm hội hoạ và một số tiểu thuyết, được coi là một nhà thơ xuất sắc của thế kỷ XX.

Ông sinh ở Cambridge, Massachusetts, học Đại…
Robert Bly (23/12/1926 - 21/11/2021) là nhà thơ, nhà soạn kịch, nhà hoạt động lãnh đạo phong trào sáng tác với các nhân vật thần thoại khoảng những năm 1980, 1990 tại Mỹ.
Hiểu Tuyết 晓雪 sinh năm 1935, tên thật là Dương Văn Hàn 杨文翰, là nhà thơ, nhà văn người Đại Lý, Vân Nam, Trung Quốc, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, thơ đăng trên các tạp chí văn học trung ương và địa phương. Đã in một số tập thơ riêng, hay nhất là những bài thơ tình. Được nhận một số giải thưởng thơ…
Nguyễn Ngọc Đàm sinh năm 1921, nguyên quán thôn Hữu Nghi, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, tham gia cách mạng từ năm 1944, nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Huân chương Độc lập hạng nhất, huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Có thơ in trong cuốn Dạ trung tản ngâm (NXB Văn hoá - Thông tin, 2014).
Alfred Wolfenstein (28/12/1888 - 22/1/1945) sinh tại Halle, mất tại Paris là một nhà thơ thuộc trường phái thể hiện, nhà viết kịch và nhà dịch thuật. Được ít lâu sau khi ông sinh, gia đình dọn tới ở Berlin, nơi ông theo học Luật. Với cuốn Nâng lên (hai tập, xuất bản năm 1919, 1920) ông đã đưa…
Trần Huy Luyện 陳輝煉 hiệu Nhàn Hoa, quê xã Quần Anh Trung, huyện Hải Hậu, nay thuộc xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông theo Nho học, đi thi đỗ nhị trường. Ông mở trường dạy học và tham gia phong trào Cần Vương ở Hải Hậu, sau lên Bắc Giang theo Hoàng Hoa Thám và Kỳ Đồng hoạt động yêu nước.…
Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, nguyên quán Thái Bình, trú quán tại Hà Nội. Đã từng tham gia 12 năm chiến tranh tại Việt Nam, với cương vị trực tiếp trên mặt trận. Sau giải ngũ ông làm nhiều nghề kiếm sống. Tốt nghiệp kĩ sư kinh tế ngành thương mại tại Việt Nam. Có tác phẩm giới thiệu trên báo chí văn…
Thơ tiêu biểu: Sa PaGiữa dòngTình yêuRượu
Nguyễn Đình Thư sinh ngày 1/2/1917 tại làng Phước Yên, Quảng Điền, Thừa Thiên. Ông nhà nghèo, nhờ bà ngoại nuôi đến lớn nên lấy tên Thư với ý rằng đời xưa Nguỵ Thư khôn lớn cũng nhờ bên ngoại. Ông học trường Queignec, Quốc học Huế, có bằng thành chung, sau làm thư ký Kho bạc Huế. Sau, ông tham gia chống Pháp và bị đối phương bắt. Không chịu khuất phục, ông bị tra tấn rồi bị đối phương cho thiêu cháy chết vào năm nào không rõ.

Nguyễn Đình Thư chỉ để lại tập thơ Hương màu, chưa xuất bản.