Thông báo, tin tức mới nhất

  • Một số cập nhật mới nhất 17/11/2025 21:33

    Trong lần nâng cấp mới nhất, Thi Viện có một số cập nhật như sau:
    - Loại bỏ tính năng bình luận nhanh bằng tài khoản Facebook: Theo thông báo từ Meta cách đây ít hôm, tính năng này sẽ dừng hoạt động từ tháng 2-2026. Tuy nhiên, Thi Viện đã dừng sử dụng tính năng này từ hôm nay, và thay bằng tính năng cho phép người dùng bình luận nhanh tự do ngay cả khi không đăng ký tài khoản. Mặc dù vậy, người dùng vẫn nên đăng nhập để có thể quản lý các bình luận của mình về sau. Các bình luận cũ cũng đã được tích hợp đầy đủ vào Thi Viện.
    - Không cho phép sử dụng hình ảnh từ website khác làm hình đại diện, mà chỉ được sử dụng hình từ thư viện được cung cấp sẵn, hoặc từ kho các hình ảnh do người dùng gửi lên Thi Viện.
  • Thêm thư viện giải nghĩa và nâng cấp chức năng tìm kiếm 03/05/2025 13:22

    Thi Viện mới bổ sung mục giải nghĩa nhằm làm thư viện sử dụng chung trong việc giải nghĩa các từ, điển cố, điển tích, địa danh,... trong các tác phẩm. Mục giải nghĩa này sẽ giúp người đăng bài không cần phải nhập nhiều lần lời giải thích cho cùng một điển cố, điển tích hay địa danh, mà lấy từ thư viện nếu đã có có sẵn. Sau khi một mục giải nghĩa được sử dụng, các bài thơ liên quan sẽ được kết nối và gợi ý khi một bài được xem.

    Chức năng tìm kiếm của Thi Viện cũng đã được nâng cấp, cho phép: tìm kiếm đồng thời trong cả phần nguyên tác, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và cả các dị bản của các bài thơ, với thời gian tìm kiếm được cải thiện đáng kể. Các yêu cầu tìm kiếm cũng được chuẩn hoá dấu câu, vị trí dấu thanh, chữ cái I/Y, và các thẻ trình bày, cho phép nhập “KHÓE MI” vẫn có thể tìm được cả “Khoé My”.
  • Bỏ quy định thêm số thứ tự với các tác giả trùng tên, bài thơ trùng tiêu đề 20/12/2024 01:04

  • Cho phép hiển thị nhiều phiên bản bài thơ 01/10/2024 08:37

  • Bỏ chức năng đăng nhập bằng tài khoản Facebook 02/06/2024 08:27

Thơ mới: Kinh loạn ly hậu thiên ân lưu Dạ Lang ức cựu du thư hoài tặng Giang Hạ Vi thái thú Lương Tể (Lý Bạch)

經亂離後天恩流夜郎憶舊遊書懷贈江夏韋太守良宰

天上白玉京,
十二樓五城。
仙人撫我頂,
結發受長生。
誤逐世間樂,
頗窮理亂情。
九十六聖君,
浮雲掛空名。
天地賭一擲,
未能忘戰爭。
試涉霸王略,
將期軒冕榮。
時命乃大謬,
棄之海上行。
學劍翻自哂,
為文竟何成。
劍非萬人敵,
文竊四海聲。
兒戲不足道,
五噫出西京。
臨當欲去時,
慷慨淚沾纓。
嘆君倜儻才,
標舉冠群英。
開筵引祖帳,
慰此遠徂征。
鞍馬若浮雲,
送余驃騎亭。
歌鍾不盡意,
白日落昆明。
十月到幽州,
戈鋋若羅星。
君王棄北海,
掃地借長鯨。
呼吸走百川,
燕然可摧傾。
心知不得語,
卻欲棲蓬瀛。

彎弧懼天狼,
挾矢不敢張。
攬涕黃金臺,
呼天哭昭王。
無人貴駿骨,
騄耳空騰驤。
樂毅倘再生,
於今亦奔亡。
蹉跎不得意,
驅馬過貴鄉。
逢君聽弦歌,
肅穆坐華堂。
百里獨太古,
陶然卧羲皇。
徵樂昌樂館,
開筵列壺觴。
賢豪間青娥,
對燭儼成行。
醉舞紛綺席,
清歌繞飛梁。
歡娛未終朝,
秩滿歸咸陽。
祖道擁萬人,
供帳遙相望。
一別隔千里,
榮枯異炎涼。

炎涼幾度改,
九土中橫潰。
漢甲連胡兵,
沙塵暗雲海。
草木搖殺氣,
星辰無光彩。
白骨成丘山,
蒼生竟何罪。
函關壯帝居,
國命懸哥舒。
長戟三十萬,
開門納凶渠。
公卿如犬羊,
忠讜醢與菹。
二聖出遊豫,
兩京遂丘墟。
帝子許專征,
秉旄控強楚。
節製非桓文,
軍師擁熊虎。
人心失去就,
賊勢騰風雨。
惟君固房陵,
誠節冠終古。
僕卧香爐頂,
餐霞漱瑤泉。
門開九江轉,
枕下五湖連。
半夜水軍來,
潯陽滿旌旃。
空名適自誤,
迫脅上樓船。
徒賜五百金,
棄之若浮煙。
辭官不受賞,
翻謫夜郎天。

夜郎萬里道,
西上令人老。
掃蕩六合清,
仍為負霜草。
日月無偏照,
何由訴蒼昊。
良牧稱神明,
深仁恤交道。
一忝青雲客,
三登黃鶴樓。
顧慚禰處士,
虛對鸚鵡洲。
樊山霸氣盡,
寥落天地秋。
江帶峨眉雪,
川橫三峽流。
萬舸此中來,
連帆過揚州。
送此萬里目,
曠然散我愁。
紗窗倚天開,
水樹綠如髮。
窺日畏銜山,
促酒喜得月。
吳娃與越艷,
窈窕誇鉛紅。
呼來上雲梯,
含笑出簾櫳。
對客小垂手,
羅衣舞春風。
賓跪請休息,
主人情未極。
覽君荊山作,
江鮑堪動色。
清水出芙蓉,
天然去雕飾。
逸興橫素襟,
無時不招尋。
朱門擁虎士,
列戟何森森。
剪鑿竹石開,
縈流漲清深。
登臺坐水閣,
吐論多英音。
片辭貴白璧,
一諾輕黃金。
謂我不愧君,
青鳥明丹心。

五色雲間鵲,
飛鳴天上來。
傳聞赦書至,
卻放夜郎回。
暖氣變寒谷,
炎煙生死灰。
君登鳳池去,
忽棄賈生才。
桀犬尚吠堯,
匈奴笑千秋。
中夜四五嘆,
常為大國憂。
旌旆夾兩山,
黃河當中流。
連雞不得進,
飲馬空夷猶。
安得羿善射,
一箭落旄頭。

 

Kinh loạn ly hậu thiên ân lưu Dạ Lang ức cựu du thư hoài tặng Giang Hạ Vi thái thú Lương Tể

Thiên thượng Bạch Ngọc kinh,
Thập nhị lâu ngũ thành.
Tiên nhân phủ ngã đính,
Kết phát thụ trường sinh.
Ngộ trục thế gian lạc,
Phả cùng lý loạn tình.
Cửu thập lục thánh quân,
Phù vân quải không danh.
Thiên địa đổ nhất trịch,
Vị năng vong chiến tranh.
Thí thiệp bá vương lược,
Tương kỳ hiên miện vinh.
Thời mệnh nãi đại mậu,
Khí chi hải thượng hành.
Học kiếm phiên tự sẩn,
Vi văn cánh hà thành.
Kiếm phi vạn nhân địch,
Văn thiết tứ hải thanh.

Nhi hí bất túc đạo,
Ngũ y xuất Tây kinh.
Lâm đương dục khứ thời,
Khảng khái lệ triêm anh.
Thán quân thích thảng tài,
Tiêu cử quán quần anh.
Khai diên dẫn tổ trướng,
Uý thử viễn tồ chinh.
Yên mã nhược phù vân,
Tống dư Phiêu Kỵ đình.
Ca chung bất tẫn ý,
Bạch nhật lạc Côn Minh.
Thập nguyệt đáo U Châu,
Qua diên nhược la tinh.
Quân vương khí Bắc Hải,
Tảo địa tá trường kình.
Hô hấp tẩu bách xuyên,
Yên Nhiên khả tồi khuynh.
Tâm tri bất đắc ngữ,
Khước dục thê Bồng Doanh.

Loan hồ cụ Thiên Lang,
Hiệp thỉ bất cảm trương.
Lãm thế Hoàng Kim đài,
Hô thiên khốc Chiêu Vương.
Vô nhân quý tuấn cốt,
Lục Nhĩ không đằng tương.
Nhạc Nghị thảng tái sinh,
Ư kim diệc bôn vong.
Tha đà bất đắc ý,
Khu mã quá Quý Hương.
Phùng quân thính huyền ca,
Túc mục toạ hoa đường.
Bách lý độc thái cổ,
Đào nhiên ngoạ Hy hoàng.
Trưng nhạc Xương Lạc quán,
Khai diên liệt hồ trường.
Hiền hào gian thanh nga,
Đối chúc nghiễm thành hàng.
Tuý vũ phân ỷ tịch,
Thanh ca nhiễu phi lương.
Hoan ngu vị chung triêu,
Trật mãn quy Hàm Dương.
Tổ đạo ủng vạn nhân,
Cung trướng dao tương vương.
Nhất biệt cách thiên lý,
Vinh khô dị viêm lương.

Viêm lương kỷ độ cải,
Cửu thổ trung hoành hội.
Hán giáp liên Hồ binh,
Sa trần ám vân hải.
Thảo mộc dao sát khí,
Tinh thần vô quang thái.
Bạch cốt thành khâu sơn,
Thương sinh cánh hà tội?
Hàm quan tráng đế cư,
Quốc mệnh huyền Kha Thư.
Trường kích tam thập vạn,
Khai môn nạp hung cừ.
Công khanh như khuyển dương,
Trung đảng hải dữ thư.
Nhị thánh xuất du dự,
Lưỡng kinh toại khâu khư.
Đế tử hứa chuyên chinh,
Bỉnh mao khống cường Sở.
Tiết chế phi Hoàn, Văn,
Quân sư ủng hùng hổ.
Nhân tâm thất khứ tựu,
Tặc thế đằng phong vũ.
Duy quân cố Phòng Lăng,
Thành tiết quán chung cổ.
Bộc ngoạ Hương Lô đính,
Xan hà, sấu dao tuyền.
Môn khai Cửu Giang chuyển,
Chẩm hạ Ngũ Hồ liên.
Bán dạ thuỷ quân lai,
Tầm Dương mãn tinh chiên.
Không danh thích tự ngộ,
Bách hiếp thướng lâu thuyền.
Đồ tứ ngũ bách kim,
Khí chi nhược phù yên.
Từ quan bất thụ thưởng,
Phiên trích Dạ Lang thiên.

Dạ Lang vạn lý đạo,
Tây thướng linh nhân lão.
Tảo đãng lục hợp thanh,
Nhưng vi phụ sương thảo.
Nhật nguyệt vô thiên chiếu,
Hà do tố thương hạo?
Lương mục xưng thần minh,
Thâm nhân tuất giao đạo.
Nhất thiểm thanh vân khách,
Tam đăng Hoàng Hạc lâu.
Cố tàm Nễ xử sĩ,
Hư đối Anh Vũ châu.
Phàn Sơn bá khí tận,
Liêu lạc thiên địa thu.
Giang đới Nga My tuyết,
Xuyên hoành Tam Giáp lưu.
Vạn khả thử trung lai,
Liên phàm quá Dương Châu.
Tống thử vạn lý mục,
Khoáng nhiên tán ngã sầu.
Sa song ỷ thiên khai,
Thuỷ thụ lục như phát.
Khuy nhật uý hàm sơn,
Xúc tửu hỉ đắc nguyệt.
Ngô oa dữ Việt diễm,
Yểu điệu khoa diên hồng.
Hô lai thượng vân thê,
Hàm tiếu xuất liêm lung.
Đối khách tiểu thuỳ thủ,
La y vũ xuân phong.
Tân quỵ thỉnh hưu tức,
Chủ nhân tình vị cực.
Lãm quân Kinh Sơn tác,
Giang, Bão kham động sắc.
Thanh thuỷ xuất phù dung,
Thiên nhiên khứ điêu sức.
Dật hứng hoành tố khâm,
Vô thời bất chiêu tầm.
Chu môn ủng hổ sĩ,
Liệt kích hà sâm sâm.
Tiễn tạc trúc thạch khai,
Oanh lưu trướng thanh thâm.
Đăng đài toạ thuỷ các,
Thổ luận đa anh âm.
Phiến từ quý bạch bích,
Nhất nặc khinh hoàng kim.
Vị ngã bất quý quân,
Thanh điểu minh đan tâm.

Ngũ sắc vân gian thước,
Phi minh thiên thượng lai.
Truyền văn xá thư chí,
Khước phóng Dạ Lang hồi.
Noãn khí biến hàn cốc,
Viêm yên sinh tử hôi.
Quân đăng Phụng Trì khứ,
Hốt khí Giả Sinh tài.
Kiệt khuyển thượng phệ Nghiêu,
Hung Nô tiếu Thiên Thu.
Trung dạ tứ ngũ thán,
Thường vi đại quốc ưu.
Tinh bái giáp lưỡng sơn,
Hoàng Hà đương trung lưu.
Liên kê bất đắc tiến,
Ẩm mã không di do.
An đắc Nghệ thiện xạ,
Nhất tiễn lạc Mao Đầu!

 

Sau loạn lạc được ơn vua đày đi Dạ Lang, nhớ lần du ngoạn cũ, viết tặng thái thú Giang Hạ là Vi Lương Tể (Người dịch: Như Quy)

Trên trời Bạch Ngọc kinh,
Mười hai lầu năm thành.
Tiên nhân xoa đầu tóc,
Kết búi dạy trường sinh.
Trót tìm vui thế tục,
Hưng vong xét thấu tình.
Chín sáu vua từ trước,
Như mây chỉ hư danh.
Đất trời cược một ván,
Chưa quên được chiến tranh.
Thử mưu tranh vương bá,
Mong đạt được lộc vinh.
Nhưng mệnh trời trái ngược,
Ném vào biển mông mênh.
Học kiếm tự cười giễu,
Văn chương cũng chẳng thành.
Kiếm khôn địch muôn kẻ,
Văn trộm được chút danh.
Trò ranh chẳng đáng nói,
Ngũ y rời Tây kinh.
Lên đường sắp sửa bước,
Dải mũ lệ thấm quanh.
Khen khôi ngô tuấn tú,
Quần hùng ai bằng anh.
Mở yến tiệc đưa tiễn,
An ủi kẻ viễn hành.
Người ngựa như mây nổi,
Phiêu Kỵ, tiễn bên đình.
Sáo ca không hết ý,
Mặt trời lặn Côn Minh.
U Châu, tháng mười đến,
Giáo mác giặc sáng tinh.
Vua quan bỏ Bắc Hải,
Khắp chốn mặc hoành hành.
Hơi thở phủ sông suối,
Yên Nhiên như tan tành.
Lòng biết không thể nói,
Lui ẩn chốn Bồng Doanh.

Cầm cung sợ Thiên Lang,
Kẹp tên chẳng dám giương.
Đài Hoàng Kim gạt lệ,
Gào trời khóc Chiêu Vương.
Không ai quý tuấn mã,
Ngựa Lục Nhĩ nhảy cuồng.
Nhạc Nghị nếu sống lại,
Cũng bỏ trốn vội vàng.
Lận đận không theo ý,
Cưỡi ngựa tới Quý Hương.
Gặp anh, nghe ca sáo,
Trang nghiêm chốn hoa đường.
Trăm dặm anh cai trị,
Như dưới thời Hy hoàng.
Tấu nhạc quán Xương Lạc,
Mở tiệc, rượu ngút ngàn.
Hiền tài bên mỹ nữ,
Đuốc nến xếp thành hàng.
Múa rộn trên chiếu gấm,
Ca hát tiếng rộn ràng.
Vui vẻ chưa trọn buổi,
Hết quan về Hàm Dương.
Tiệc bày ngút tầm mắt,
Vạn người tiễn vây quanh.
Từ biệt bao xa cách,
Khác nóng lạnh, héo xanh.

Nóng lạnh mấy lần đổi,
Chín châu bỗng vỡ tung.
Quân Hồ lẫn binh Hán,
Cát bụi mịt núi sông.
Cỏ cây rung sát khí,
Sao trời tối mịt mùng.
Xương trắng chất thành núi,
Muôn dân có tội chăng?
Ải Hàm Cốc che trở,
Vận nước: Kha Thư Hàn.
Giáo dài ba mươi vạn,
Đón giặc mở cửa quan.
Công khanh như cừu chó,
Can gián bị băm vằm.
Đôi vua đi tránh loạn,
Hai kinh hoá gò hoang.
Hoàng tử đi chinh phạt,
Chiếm Sở giữ một vùng.
Tài chẳng như Tề, Tấn,
Dưới quyền toàn bạo hung.
Lòng người mất phương hướng,
Thế giặc gió cuốn phăng.
Chỉ anh lòng tiết nghĩa,
Kiên cố giữ Phòng Lăng.
Đỉnh Hương Lô ta náu,
Súc suối ngọc, ăn sương.
Mở cửa Cửu Giang uốn,
Dưới gối Ngũ Hồ thông.
Nửa đêm thuỷ quân đến,
Cờ xí rợp Tầm Dương.
Bị ép xuống thuyền chiến,
Chút hư danh tự thương.
Uổng vứt như mây khói,
Đã ban năm trăm vàng.
Từ quan không nhận thưởng,
Bị đày tới Dạ Lang.

Dạ Lang xa vạn dặm,
Về tây người già nhanh.
Bốn bể quét hết giặc,
Ta cây sương đẫm cành.
Nhật nguyệt không soi lệch,
Sao kêu với trời xanh?
Anh cai trị sáng suốt,
Với bạn cũ thương tình.
Xấu hổ thân khách quý,
Ba lần Hoàng Hạc lâu.
Thẹn với Nễ ẩn sĩ,
Hững hờ Anh Vũ châu.
Phàn Sơn vương khí sạch,
Trời đất hắt hiu thu.
Núi Nga My tan tuyết,
Dòng Tam Giáp chảy mau.
Vạn thuyền lướt xuôi ngược,
Buồm giăng quá Dương Châu.
Phóng mắt xa muôn dặm,
Khoáng đạt tan hết sầu.
Khung cửa dựa trời mở,
Cây nước thướt tha màu.
Sợ mặt trời dần lặn,
Trăng lên chuốc rượu mừng.
Gái Ngô cùng gái Việt,
Yểu điệu khoe phần hồng.
Gọi lên bậc mây múa,
Bước ra cười ung dung.
Trước khách tiểu thuỳ thủ,
Tà áo gió xuân lồng.
Khách quỳ xin ngừng nghỉ,
Tình chủ vẫn chưa xong.
Xem thơ Kinh Sơn mới,
Giang, Bão phải thẹn lòng.
Tự nhiên không đẽo gọt,
Sen thơm từ nước trong.
Hứng lộng trong ngực áo,
Tri âm luôn chờ mong.
Cửa đỏ nhiều dũng sĩ,
Giáo kích rợp khôn cùng.
Đục đá, đốn trúc mở,
Nước trong lượn theo dòng.
Ngồi nhàn trên thuỷ các,
Luận bàn tiếng vọng vang.
Câu quý như ngọc bích,
Lời hứa coi nhẹ vàng.
Anh với ta không thẹn,
Chim xanh chứng cho lòng.

Mây màu chim thước rộn,
Từ trời xuống hót vang.
Báo tin xá tội tới,
Tha kẻ đày Dạ Lang.
Hơi ấm xua hang lạnh,
Khói nóng từ tro bùng.
Anh lên Phụng Trì bước,
Giả Nghị, bỏ tài năng?
Vua Nghiêu, chó Kiệt sủa,
Xuân Thu, Hung Nô cười.
Đêm thở dài mấy bận,
Lo vận nước chẳng nguôi.
Cờ xí hai bên núi,
Hoàng Hà giữa chảy xuôi.
Gà buộc khó cùng tiến,
Ngựa uống muốn nghỉ ngơi.
Sao có tài Hậu Nghệ,
Một tên Mao Đầu rơi!


Bài thơ này được coi là kiệt tác ngũ ngôn trường thiên dài 166 câu của Lý Bạch, dài nhất trong các bài của ông còn lại tới nay. Đây là một bản tự truyện bằng thơ tái hiện trọn vẹn thăng trầm cuộc đời ông cùng biến cố lịch sử trọng đại của nhà Đường. Bài thơ được viết khoảng năm 759 đời Đường Túc Tông. Trong biến cố loạn An Lộc Sơn, Lý Bạch vì muốn cống hiến tài năng dẹp giặc nên đã tham gia vào mạc phủ của Vĩnh Vương Lý Lân. Tuy nhiên, Vĩnh Vương sau đó bị xem là kẻ phản loạn chống lại triều đình, nên Lý Bạch bị bắt giam tại Tầm Dương và nhận án lưu đày đi vùng đất hẻo lánh Dạ Lang (nay thuộc tỉnh Quý Châu). Khi ông đang trên đường bị áp giải tới vùng Vũ Lăng (nay ở vào giáp ranh Hồ Nam, Hồ Bắc, Trùng Khánh) thì triều đình ban chiếu đại xá nhân dịp có thiên tai. Được trả tự do, Lý Bạch xuôi dòng về phía đông đến quận Giang Hạ (tức Ngạc Châu, trị sở nay là Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc) và hội ngộ người bạn tri kỷ cũ là Vi Lương Tể đang giữ chức Thái thú Giang Hạ (tức Thứ sử Ngạc Châu). Xúc động trước tấm lòng kiên trung, nhân hậu của bạn và ngẫm lại chặng đường dâu bể của bản thân lẫn đất nước, Lý Bạch đã sáng tác bài thơ này để bộc bạch nỗi lòng và tặng bạn.

Nội dung bài thơ đan xen giữa bản tự thuật cá nhân, bức tranh lịch sử bi thương và tình bạn tri âm sâu sắc, có thể được chia làm các phần:
- Tuổi trẻ hoài bão, khát vọng chính trị, sau đó bất mãn với bản thân nên ngao du thiên hạ và gặp Vi Lương Tể;
- Trở lại Quý Hương trong cảnh loạn An Lộc Sơn bắt đầu, gặp bạn lần hai và hoài niệm cảnh thái bình;
- Loạn An Lộc Sơn bùng nổ lan rộng và thảm cảnh nhân dân;
- Bi kịch bản thân khi theo Vĩnh Vương và chịu án đày đi Dạ Lang;
- Được vua xá tội, tái ngộ người bạn tri kỷ tại Giang Hạ, và khát vọng phò vua giúp đời.

 

Thơ thành viên mới: Trái mùa thu (Hoàng An Anh Thịnh)

Tôi đứng lặng nhìn quả hồng đầu ngõ
Mới hôm qua còn xanh ngắt trên cành
Mà sáng nay đã đỏ rực như tranh
Cứ cuống quýt như người đi chạy loạn.

Thời gian chảy sao mà tàn nhẫn quá
Chưa kịp mừng đã lo chuyện ngày mai
Cái màu thu dồn hết sức ra oai
Để rồi rụng xuống bùn làm đất mục.

Nghĩ đến mình mà thấy lòng ấm ức
Tuổi trẻ qua, má phấn cũng phai dần
Cứ lo xa những chuyện ở bên chân
Sợ ngày mai em ngoảnh đầu đi mất.

Trái chín vội bởi vì đời quá gấp
Nên hôm nay có gì ngọt dâng hết thôi
Chẳng thèm lo chuyện bạc tóc xa khơi
Cứ yêu bướng, yêu liều cho thoả dạ.

Cây trút lá để nuôi mầm sống mới
Còn lòng tôi trút hết để đi đâu?
Nếu ngày mai hai đứa ở hai đầu
Thì cái ngọt hôm nay thành vết sẹo.

Mặc kệ đời ngoài kia đầy lắt léo
Quả thu rơi xơ xác dưới chân người
Tôi vẫn đứng dưới vòm cây đợi bạn
Bát cơm chiều nhen nhóm khói bay lên.

Hà Nội, 25/7/2026

Trích diễm

Lão ký phục lịch,

Chí tại thiên lý;

Liệt sĩ mộ niên,

Tráng tâm bất dĩ.

–– Bộ xuất Hạ Môn hành kỳ 5 - Quy tuy thọ (Tào Tháo)

Kỷ niệm ngày sinh, mất

Tác giả mới

Thơ Việt mới

Thơ dịch mới

Thơ thành viên mới

Diễn đàn

 

Tiêu điểm

Trần Huy Luyện 陳輝煉 hiệu Nhàn Hoa, quê xã Quần Anh Trung, huyện Hải Hậu, nay thuộc xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông theo Nho học, đi thi đỗ nhị trường. Ông mở trường dạy học và tham gia phong trào Cần Vương ở Hải Hậu, sau lên Bắc Giang theo Hoàng Hoa Thám và Kỳ Đồng hoạt động yêu nước.…
Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, nguyên quán Thái Bình, trú quán tại Hà Nội. Đã từng tham gia 12 năm chiến tranh tại Việt Nam, với cương vị trực tiếp trên mặt trận. Sau giải ngũ ông làm nhiều nghề kiếm sống. Tốt nghiệp kĩ sư kinh tế ngành thương mại tại Việt Nam. Có tác phẩm giới thiệu trên báo chí văn…
Thơ tiêu biểu: Sa PaTình yêuGiữa dòngRượu
Nguyễn Đình Thư sinh ngày 1/2/1917 tại làng Phước Yên, Quảng Điền, Thừa Thiên. Ông nhà nghèo, nhờ bà ngoại nuôi đến lớn nên lấy tên Thư với ý rằng đời xưa Nguỵ Thư khôn lớn cũng nhờ bên ngoại. Ông học trường Queignec, Quốc học Huế, có bằng thành chung, sau làm thư ký Kho bạc Huế. Sau, ông tham gia chống Pháp và bị đối phương bắt. Không chịu khuất phục, ông bị tra tấn rồi bị đối phương cho thiêu cháy chết vào năm nào không rõ.

Nguyễn Đình Thư chỉ để lại tập thơ Hương màu, chưa xuất bản.
Phan Chín sinh năm 1974, hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam, hiện là phóng viên báo Quảng Nam. Ông bắt đầu sáng tác từ năm 1989 với sở trường làm thơ thiếu nhi.

Đã xuất bản:
- Quê nhà cô Tấm (tập thơ thiếu nhi năm, 2003)
Hồ Tá Bang (1875-1943) là một nhà cải cách duy tân thời cận đại, và là một trong sáu thành viên sáng lập trường Dục Thanh và công ty Liên Thành hồi đầu thế kỷ XX. Ông sinh năm Ất Hợi (1875) tại làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Sau ông dời…
Charles-Augustin Sainte-Beuve (1804-1869) là nhà phê bình hàng đầu Pháp, người đề xướng phương pháp tiểu sử học trong phê bình văn học, đồng thời còn là thi sĩ và tiểu thuyết gia.

Tác phẩm:
- Cuộc đời, thi ca, tư tưởng củ Joseph Delorme (1829)
- Tư duy tháng Tám (1837)
- An ủi
Nguyễn Ngọc Tú Anh sinh ngày 12/10/1982 tại TP Hồ Chí Minh, là hướng dẫn viên du lịch.

Tác phẩm:
- Ngang qua đời nhau (NXB Hội nhà văn, 2020)
- Nhặt cánh hoa xưa (chưa in)

Alexander Kushner Александр Кушнер

Alexander Kushner
Alexander Semenovich Kushner (Александр Семёнович Кушнер) sinh năm 1936, là nhà thơ Nga, tác giả của 50 tập thơ (bao gồm thơ thiếu nhi) và nhiều chuyên luận về thi ca Nga cổ điển và hiện đại. Ông sinh ở Leningrad trong một gia đình Do Thái. Cha của ông là kỹ sư hải quân. Kushner học tại Khoa Triết học…

Mạnh Lê Lê Văn Mạnh

Mạnh Lê
Nhà thơ Mạnh Lê (4/4/1953 - 15/4/2008) tên thật là Lê Văn Mạnh, nguyên là Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Thanh Hoá kiêm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hoá, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

Các…