Thông báo, tin tức mới nhất

Thơ mới: Quan tỉnh hoa trình ký (Trịnh Cương)

Tiết giữa kim thiên, luật vừa di tắc,
Nam mây ánh đan tiêu rỡ rỡ,
Bốn bề vây ngọc chúc làu làu.
Việc thừa thiên gìn trị quốc trị dân.
Vô tư vốn giơ gương nhật nguyệt.
Đường lý chính kiêm dùng văn dùng võ.
Hữu đạo gắng nối phép tổ tông,
Dữ Mân phong đà lần nghị mấy chương.
Thiết nông sự khắp trải tường đòi chốn.
Nghĩ chữ vu du vu dật, dám lãi trường răn trước Chu Vương.
Ngâm câu hà trợ hà hưu, hằng áy náy lời xưa hạ ngạn.
Đạo khuông trực phen đời thuần cổ,
Tuần yến thanh theo dấu tỉnh phương.
Cốc đán trạch nên cương thìn hợp phát.
Nghiêm hiệu lệnh nhạn hàng mấy đội, chưng lưng phấp phới chèo lan.
Rợp tinh kỳ quyến phẳng ngàn tầm, dức dấy vẫy vùng duềnh Nhị.
Nhòm cơ tạo diên ngư tính thuận,
Hay đạo trung phí ẩn lý mầu.
Thiên lãng khí thanh, cảnh sắc một nhìn một lạ,
Dân thuần tục hậu, phong lưu càng trải càng ưa.
Bãi phau phau Thiên Đức vừa ngang.
Duềnh phá phá Xuân Canh chợt khỏi.
Đưa phong hoa chèo tuyết nguyệt.
Bến Phú Gia mẽ chốn Tầm Dương; vui thi lễ, dấy huyền ca.
Áng Đông Ngạc vốn nguồn Chu Tứ; cờ phơi phới kìa doanh đồn thú.
Thuyền chen chen nọ chợ thông thương.
Danh để còn thơm, độ bề thẳng tới.
Đàm kinh mộng cũ, bến Vĩnh Khang tìm hỏi chúng họ Nhi.
Vịnh sử lời xưa, làng Thuỵ Hương hãy di truyền cố lão.
Hương hoả soi trời Nam dắc dắc,
Uy danh lừng đất Bắc nhơn nhơn.
Võng La sang ngọ làu còn,
Trưa [?] mai đống tịch dương chưa xế.
Độ Bồng Lai bãi dài sông phẳng.
Kìa ghềnh Vàng sang họp chợ Đông.
Miền các sa sóng lặng nguồn thanh.
Nọ cửa Hát đất thiêng nhà trạm.
Đòi Phù trung coi sang Phúc Lộc,
Chừng địch vi đoái lại Từ Liêm.
Lượng sức chèo lên khắp cả bến Phùng,
Nhân dòng thuận thoắt đến vời Vũng Hiệp.
Khí huân cao đền xưa Yên Sở,
Linh ứng từng hộ quốc hộ dân.
Nước [...] tiện Thuỵ Khuê,
Hình trạng có kỳ sơn kỳ thuỷ.
Cảnh hư vô khôn dạm,
Đồ thắng lệ sẵn bày.

Thiên Phúc tự thi

Mấy chốn tùng lâm khắp trải qua,
Nơi nơi viên tĩnh [?] tiên gia.
Non xanh gió cuốn mùi ưu bát,
Gác thẳm chuông đưa [?] Pháp hoa.
Bóng hiên long trì song nhật nguyệt,
Đồ phi bích động rỡ yên hà.
Linh thông dấu hãy còn đinh ninh,
Nghiệm trước hình dung vẫn chẳng ngoa.
Trùng chập xây thạch bích lừng chừng,
Thái lão gồm Thiên Tài đỉnh nọ.
Tần vận phủ từ vân dung lãng,
Long Đấu kề Hoa Phát triền kia.
Động rành rành di dấu Tiên ông,
Trì phức phức khoe danh quân tử.
Xem thể đinh ninh pháp giới,
Dường còn đồng vọng uy linh.

Cắc Cớ thi

Nên đích đương thú kỳ dị,
Chiếm thanh u khéo khắt khe.
Hở hiên mai, xuyên bóng quế,
Xông cửa ngọc, nức mùi lê.
Tầng thạch kính in toà đấu,
Trứ liên đài dãi vẻ Khuê.
Trác tích cảnh này đấng ấy,
Độ bể dâu dễ phiên bì.
Vọi vọi quang nghi, bỡ ngỡ ánh lâu đài nhật nguyệt,
Làu làu tịnh sắc, rỡ ràng phong cẩm tú yên hà.
Mang say Thiên Phúc chốn mầu,
Lộ thế Đồng Lư non lạ.

Đồng Lư, Kỳ Ngộ tự thi

Gặp triều cường thuận gió đưa,
Mệnh danh Kỳ Ngộ cảnh Đồng Lư.
Nước non gấm sắc danh kham lạ,
Hoa cỏ xuân dung chỉn khéo ưa.
Trên chiếm thanh cao, dầu đủng đỉnh,
Dưới vầy thú vị, mặc thừa lưa.
Tuồng ni ắt thể càng linh ứng,
Lộc tự nhiên thêm có có dư.
Cảnh hữu tình di quyến,
Công vô lường thừa lưa.
Ngoạn thưởng lân la, thú tiêu sái tuy nhiều cửa Thích.
Phẩm đề ngâm ngợi, cảnh thanh quang dễ mấy chùa So.
Vầy yến hội một đoàn xướng thi ca đòi vận.

Nhạc Lâm tự thi

Mảng vui thiên phúc cảnh thiên thành,
Ngoạn thưởng âu nơi thích tính tình.
Thơn thớn nhân cơ trông vọi vọi,
Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh.
Trời xuân vặc vặc hoa cài cửa,
Gió thuỵ hây hây nguyệt giãi mành.
Trong thuở tỉnh phương buồm thuận tới,
Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình.
Trông trước mặt dẫy nhà tướng trọng,
Rệt rệt phô Chương Đức mấy làng.
Liếc mé tả nuôi náu khoa danh,
Song song dõi Từ Liêm một dải.
Đức tinh thêm hoàn tụ,
Địa khí vốn chung linh.
Thói vầy nên nhân trạch nghĩa hương,
Đời hằng có quốc chân gia bảo.
Thiềm thừ hiện non chìm cửa động,
Thể kham cười uống tiếng thần y.
Phượng hoàng kề núi chúc rợp cờ,
Trông hỡi nhớ lỗi tài lang sử.
Độ ngang vũng Phượng,
Chừng thẳng làng Mai,
Sênh mở khoan từ cả Thuỵ Dương.
Bến đò Khâu nọ đó, duềnh đưa thuận đề vời Lang Xá,
Ngã ba Thế gần đây, mé tả long uyển chuyển long chi.
Duyềnh hữu hổ giao gia hổ [...].
Nhuần lộc nước kìa kìa cây kiều mộc,
Rườm rà hàng tùng bách chồi cành.
Sẵn tài lành nọ nọ bến phiên khê,
Hăm hở chí ưng bằng thuận cánh.
Mới biết địa linh nhân kiệt,
Đã đành hiền vị thời sinh.
Đòi Tử Dương vây hoa thảo nghênh xuân,
In vạnh vạnh một vầng hạo nguyệt,
Ngàn nối lai sản lâm tuyền thích tính,
Mở vang vang tám bức bình phong.

Trú Tử Dương thi

Trải qua ngoạn vị trong phong thái,
Cảnh trí xem đây dường khả chí.
Uyển nguyệt giăng la nước hiến châu,
Cài châm giắt ngọc non trình thuỵ.
Đùn đùn trùng trập kể thiên hình,
Lẻo lẻo oanh hoàn kiêm vạn thế.
Cổ lâm tuyềnthị triền,
Luận danh ắt xưng danh vô ngã.
Đòi thú ở bến Liễu dùng dằng,
Mấy khúc dóng ca oanh dắng dỏi.
Gió bắc đông thoắt thoắt đăng bờ, sang Yên Phú dừng thuyền,
Dòng Nhâm Quý thênh thênh bến chật, tới Quang Thừa trương tản.

Trú Kiện Khê thi

Lợt lợt muôn ngàn bao xiết kể,
Chiều người ở bấy nơi giai chí.
Non bày giáp ất dễ phen bì,
Nước uốn chi huyền khôn đọ ví.
Khói tạnh mây thu tỏ ngọc lam,
Duềnh thanh sóng phẳng trông gương quế.
Kìa kìa Tản Lĩnh nọ Nam Công,
Thẳng thưởng đây nền xuân phú quý.
Chốn thu nguyên uỷ,
Thú chiếm thanh u.
Non oanh nước, nước quyến non, ngã thấu cáp non tiên miếu vắng,
Cảnh chiều người, người mến cảnh, đường thông tiện cảnh Phật chùa phô.

Kinh Tiên sơn thi

Tạo thành vốn sẵn từ thiên địa,
Vẹn thiểu đông nên vơi cảnh trí.
Trùng trập thêm cao rợp Tản mây,
Dồi dào mặc hứng đua chèo quế.
Kìa ngàn bích ngọc mẽ phong yêu,
Nọ dải thanh la dường yến vĩ.
Viễn cận thu về một bản đồ,
Quải bày kiện kiện làm nghi vệ.
Mãn Nguyệt tự thi

Mảng danh linh ứng chốn hương thành,
Tựu Lãnh so xem ý cũng hình.
Song cửa từ nhân thông lộng lộng,
Mở đường tế độ rộng vênh vênh.
Suối tuôn nguồn đạo thanh niềm tục,
Gió ruổi cầm xuân lặn tiếng kình.
Công đức trập trùng cao vọi vọi,
Dấu xưa chung khí hãy đinh ninh.
Thuỵ lôi còn di suốt mấy cồn,
Quyển Sơn lại lam xóm đỉnh.

Kinh Quyển sơn thi

Đâu rằng kỳ, đâu rằng dị,
Nơi nơi vẫn có chừng cao chí.
Dòng thanh kính nguyệt khéo in soi,
Vách lục bình phong khôn mạc vẽ.
Non nhiễu bôn đằng nữa mã hình,
Nước oanh uỷ khúc hơn xà thế.
Muôn khê nghìn hác một triều tuôn,
Cùng hướng thần kinh phù tộ khoẻ.
Trưa cả từ Kim Bảng éo le thay, kìa kìa tỏ dáng Cổ Bồng.
Chiều vừa đội Kiện Khê Cắc Cớ bấy, nọ nọ gần miền Kẽm Trống.

Cổ Bồng thi

Xuân thu trải mấy trong canh kỷ,
Vẳng vẳng bầu nung nên nhất chí.
Vách dựng thanh cao bức chướng bình,
Thú nhiều trợ trát duềnh Kinh Vị.
Trùng trùng giao hội rập nguồn đầu,
Cuộn cuộn trường lưu thông hải vĩ.
Rộng hẹp khen thay khéo tạo đoan,
Bút thiêng khôn dạm nên hình thế.
Kẽm Trống thi

Qua Cổ Bồng già một ,
Tới đây ngẫm lại càng thêm chí.
Dẫy tuôn thác thác khắp đi về,
Mở khép song song cùng đối trĩ.
Thạch bích mây lồng rất tú thanh,
Giang lưu long nhiễu thêm kỳ dị.
Trong hình thế thắng vốn tự nhiên,
Tạo hoá khéo bày nơi hiểm dị.
Đường thông thuỷ lục,
Khách tiện đan xa.
Trông xa xa vạnh vạnh trăng hồng, do kinh quốc Cầu Châu nẻo ấy,
Xem gần gần ghẽ ghẽ cảnh phượng xuy, Nam công ao cá nẻo này.
Miếu hạc lai còn hiển ứng.
Khí anh linh ngàn Thiên Kiện hãy di truyền nơi hiểm yếu.
Nhặt nhặt xanh cài châm ngọc, đỉnh hội Bàn Than.
Trơ trơ thế vững chân ngao, non lãng quả phụ
(Kim dĩ cải vi trinh tiết sơn phụng ban đề).
Thấp thoáng trận nhạn,
Dằng dịt bờ lỡ.
Đường khách la ngàn ngả vào Bình Lục, Thanh Liêm trỏ kinh [?].
Vời ấy đường lên Thạch Thành, Cẩm Thuỷ.
Bẻ bến Quyết độ nơi kia, độ diêm nẻo thấu Trường An.
Nọ chợ gió đường sang Gia Viễn,
Kinh mang chạnh cài tuần thiên phái.
Suất độ bộc ngang Thiên bản vọng doanh.
Sông giản thu với vũng Hoàng Đan,
Ngọn cầu Nghệ lên thiên quan đế.
Biển ngàn tầm luyện tĩnh một sắc,
Ngân trang cả thời xưa, đòi đòi quải bày.
Tuần bồ câu vận vào phải đội,
Vời ngọ chính thuyền thuyền tiếp kế,
Bến Vân Sàng vật lại vừa chừng,
Áp rằng bày Dục Thuý đùn đùn thừa vân.
Nối liên cung vọi vọi,
Vẻ phong quang gồm đủ.
Rỡ rỡ phô bóng thỏ rây vàng.
Mùi trần tục rửa không lạt lạt,
Phẳng thức la giăng bạc.
Thú thanh yêu đòi một,
Lòng ngâm hứng bội mười.
Hương đưa mỹ dạng tàu khê,
Mây rợp nghi miền phương trượng.
Hôi tạc khéo khen tay tạo hoá,
Phô bày mọi vẻ mọi chân kỳ.
Thưởng ngâm từng trải đấng thánh thần,
Ngoạn mùi đòi câu đòi thân thiết,
Bút thiêng hứng khách, cảnh hiếu dùng người.
Địch ngư kia dắng dỏi dưới trăng.
Trỏ Ngũ Hồ bàn cơ quan Phạm tử,
Liêu tiều nọ nghênh ngang trước gió,
Tầm Thiên Thai hỏi thi vị Lưu sinh.
Nhuỵ nhả hương nhuần hoa cỏ đầm hâm.
Thông đưa gió bếp, cầm tranh ánh ỏi.
Chiều cảnh mở đoàn lạc đòi tiệc,
Bàn bạc dầu ví lãng phiên bồng.
Hứng lòng vây hộ giá mọi tài,
Ngâm ngợi mặc nhả châu phun ngọc.

Dục Thuý sơn phong cảnh thi

Đăng cao dụng hứng bút nhân đề,
Nhân trí gồm hai rất éo le.
Châm kết bên xanh lồng bóng thỏ,
La giăng khói lục chấp hương nghê.
Một bầu bạch ngọc hằng in dãi,
Mấy điểm tri trần chẳng phen hề.
Ngẫm sức an bài mầu nhiệm bấy,
Trời Nam đệ nhất thú thanh kỳ.
Khăn khắn mười phần kinh ái,
Vang vang vạn trượng sum la.
Khối non Diều phơi phới cờ trương,
Đến Thục Mễ mau mau chèo bắt.
Lên kinh trống lệnh vang thuỷ quốc,
Ba thượng đình đông mãi tỏ canh dâu.
Qua điện triệu thế thuận phong tường,
Bình a đống, đoái vừa trương vầng quế.
Kinh la trạnh giới về Mỹ Lộc,
Độ suối vào huyện giữa Nam Chân.
Thẳm lòng thay chẳng trắc chẳng doanh,
Tiện gieo đinh năng lựa lần con nước.
Mặc triêu mặc tịch nhân kề bến Vị Hoàng.
Mơ màng rộng rãi nội Chu,
Tích để dồi dào thóc Hán.
Vệ dân pháp nghĩa thương nối trước,
Túc binh đường lương hưởng tiện nay.
Câu tiết dụng ái dân sơ sau,
Vốn súc trừ quốc bản.
Chữ tôn quân thân thượng,
Gái trai đều tương suất đồng phong.
Của hằng sẵn tuy nhiều, dân hằng tâm dễ hoà.
Lý lư trông lấp xấp, cảnh cửa lạc hợp khả đỗ nghi.
Quân lệnh dóng tưng bừng, giáp tuần vàng tiện bề trú trát.
Chợt tới bên làng bàng bị băng trông ngang miếu Mỵ Ê.
Tiết phau phau một khách hồng nhan,
Danh chói chói muôn đời thanh sử.
Pha lê in thức lục âu vời, cửa lục chẳng bao xa.
Lò trục hợp dựng mây phỏng độ ngòi mây đà chọn tới.
Từ hộ quốc hương dâng ngút ngút,
Gác Tuyên Kinh chuông nện boong boong.
Phật đức chỉn từ bi, thần công càng hiển ứng.
Vạn lai chèo quế châu lộ thố,
Đò đà ngang nhân dục hiến giang.
Nhà quy mệnh hoà trúc phất phơ.
Chừng vừa dóng Nam Xương vũ điện.
Lễ cung kính hậu bày ngọc bạch.
Lòng ái ưu bèn giãi đá vàng.
Vui chợ Hán chiền Chu, xóm ánh ỏi xoang tơ bếp chúc.
Dãy lụa tày ngọc triệu, chốn dập dìu hỏi nguyệt chào mai.
Bia di ái tạc để rành rành.
Tiết thanh thượng tưởng thêm ngại ngại.
Ngã thông [?] ngã sông tạnh xuy cửa lạnh,
Bên kia phương tiện đòi phương.
Bãi bông đốt bến Bông mé nọ.
Bồng Châu huyện cồn Kim Động,
Nghỉ Lan Xuyên giới đà Đông An.
Tắt cánh dạo ngang sông Bái.
Băng xem kìa bến Chấp nọ miền Hàm Tử.
Trải màn trù cõi bến ngòi.
Vừa đội trên ghềnh, quất dưới bãi Tự Nhiên.
Duyên tình cờ còn rệt dấu Tiên Dung,
Tô vương dứt sá phiền tay Nguyệt lão.
Săm lăm khu duổi trắng sự Cao Biền,
Dặm dễ khéo truyền hư chòm xóm.
Áng cỏ xanh tích Dạ Trạch lời hẳn âu đắc thực.
Vũng Duật trông ngoài vầng thuý yết.
Độ duối giăng đối xã Thanh Trì,
Vang cách nước tiếng chày tỏ kề miền Bà Đá.
Tám bát diên quy nhãn giới thuần bàng đà hay thói lư diêm,
Thu vạn cảnh hội tâm quan hiểm dị lộ mở đồ sơn thuỷ.

Nhãn tiền cảnh trí thi tứ thủ

Áng nhân sơn nguồn trí thuỷ,
Trùng trùng thanh tú gồm sơn thuỷ.
Thuỷ tuyền muôn phái dẫn quần sơn,
Sơn nhiễu ngàn hàng bao chúng thuỷ.
Thuỷ ánh vầng hồng dãi hiểu sơn,
Sơn in bóng quế lồng thu thuỷ.
Sơn sơn thuỷ thuỷ khéo khoẻ đòi,
Thu lại một đồ sơn hợp thuỷ.
Còn bàn bạc trí nhân thú lạ,
Mảng ngợi khen phong tuấn công xưa,
Tin trúc vốn khang ninh,
Toà sao đô cùng hướng.
Trật trật uyên hàng lộ tự,
Trước loan dư thân hổ bái tung bừng.
Hây hây tử mạch hoa cù,
Ngoài tiên trượng chỉ long chương ham hở.
Nhà nhà cùng lạc, áng áng giai xuân.
Sưu thập càn khôn, khắp vạn dặm dù tường dù lược,
Quát bao vũ trụ, vẹn một bầu mặc trạng mặc hình.
Chép dư đồ lồng lộng bốn phương,
Dạm sơn thuỷ lừng lừng một ký.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Thơ thành viên mới: Giọt sầu thu (Viễn Phương (OVQ))

Chiều thu hiu hắt chiều thu
Heo may thoang thoảng lời ru lỡ làng
Hàng Phong màu lá úa vàng
Sắc hồng chen đỏ phai tàn rụng rơi

Hồn em lơ lửng chơi vơi
Về qua ngõ vắng lẻ loi bóng người
Tường mây phong kín nửa đời
Đôi môi lạnh nhạt bên trời tha hương

Mắt xanh chừng lắm tơ vương
Trông qua vũ trụ nhớ thương xa vời
Bên thềm đất lạnh đơn côi
Hình hài tan biến giữa trời đau thương

Hàng Phong chen chúc khói sương
Thu đi,thu đến vấn vương gót ngà
Gió về lạnh lẽo sương sa
Tình câm ai biết đâu mà tỏ phân

Lá vàng phủ kín ngoài sân
Tìm đâu ra được dấu chân vô hình
Bao thu mòn mỏi đợi tin
Tường mây kia vẫn vô tình ngăn đôi

Em đi nhặt lá Phong rơi
Ép vào trang giấy gởi người phương xa
Mai rồi thu có phôi pha
Lá Phong tình vẫn đậm đà hương thu

Chiều nay sớm có sương mù
Hàng Phong cất tiếng vi vu gọi hồn
Mắt em mờ mịt nỗi buồn
Lạnh lùng mây trắng chập chờn nơi nơi

Vây quanh dáng đứng đơn côi
Ngậm ngùi em bước lẻ loi giữa đời
Triền miên nửa kiếp mơ rồi
Trong cơn mê tỉnh đầy vơi giọt sầu

Santa Ana, CA
Oct 15, 1994

Trích diễm

Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,

Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam canh.

–– Xuân tịch lữ hoài (Thôi Đồ)

Kỷ niệm ngày sinh, mất

Tác giả mới

Thơ Việt mới

Thơ dịch mới

Thơ thành viên mới

Diễn đàn

 

Tiêu điểm

Robert Bly (1926-) là nhà thơ, nhà soạn kịch, nhà hoạt động lãnh đạo phong trào sáng tác với các nhân vật thần thoại khoảng những năm 1980, 1990 tại Mỹ.
Hiểu Tuyết 晓雪 sinh năm 1935, tên thật là Dương Văn Hàn 杨文翰, là nhà thơ, nhà văn người Đại Lý, Vân Nam, Trung Quốc, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, thơ đăng trên các tạp chí văn học trung ương và địa phương. Đã in một số tập thơ riêng, hay nhất là những bài thơ tình. Được nhận một số giải thưởng thơ…
Nguyễn Ngọc Đàm sinh năm 1921, nguyên quán thôn Hữu Nghi, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, tham gia cách mạng từ năm 1944, nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Huân chương Độc lập hạng nhất, huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Có thơ in trong cuốn Dạ trung tản ngâm (NXB Văn hoá - Thông tin, 2014).
Alfred Wolfenstein (28/12/1888 - 22/1/1945) sinh tại Halle, mất tại Paris là một nhà thơ thuộc trường phái thể hiện, nhà viết kịch và nhà dịch thuật. Được ít lâu sau khi ông sinh, gia đình dọn tới ở Berlin, nơi ông theo học Luật. Với cuốn Nâng lên (hai tập, xuất bản năm 1919, 1920) ông đã đưa…
Trần Huy Luyện 陳輝煉 hiệu Nhàn Hoa, quê xã Quần Anh Trung, huyện Hải Hậu, nay thuộc xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông theo Nho học, đi thi đỗ nhị trường. Ông mở trường dạy học và tham gia phong trào Cần Vương ở Hải Hậu, sau lên Bắc Giang theo Hoàng Hoa Thám và Kỳ Đồng hoạt động yêu nước.…
Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, nguyên quán Thái Bình, trú quán tại Hà Nội. Đã từng tham gia 12 năm chiến tranh tại Việt Nam, với cương vị trực tiếp trên mặt trận. Sau giải ngũ ông làm nhiều nghề kiếm sống. Tốt nghiệp kĩ sư kinh tế ngành thương mại tại Việt Nam. Có tác phẩm giới thiệu trên báo chí văn…
Thơ tiêu biểu: Sa PaTình yêuGiữa dòngRượu
Nguyễn Đình Thư sinh ngày 1/2/1917 tại làng Phước Yên, Quảng Điền, Thừa Thiên. Ông nhà nghèo, nhờ bà ngoại nuôi đến lớn nên lấy tên Thư với ý rằng đời xưa Nguỵ Thư khôn lớn cũng nhờ bên ngoại. Ông học trường Queignec, Quốc học Huế, có bằng thành chung, sau làm thư ký Kho bạc Huế. Sau, ông tham gia chống Pháp và bị đối phương bắt. Không chịu khuất phục, ông bị tra tấn rồi bị đối phương cho thiêu cháy chết vào năm nào không rõ.

Nguyễn Đình Thư chỉ để lại tập thơ Hương màu, chưa xuất bản.
Phan Chín sinh năm 1974, hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam, hiện là phóng viên báo Quảng Nam. Ông bắt đầu sáng tác từ năm 1989 với sở trường làm thơ thiếu nhi.

Đã xuất bản:
- Quê nhà cô Tấm (tập thơ thiếu nhi năm, 2003)
Hồ Tá Bang (1875-1943) là một nhà cải cách duy tân thời cận đại, và là một trong sáu thành viên sáng lập trường Dục Thanh và công ty Liên Thành hồi đầu thế kỷ XX. Ông sinh năm Ất Hợi (1875) tại làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Sau ông dời…