Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 05/03/2015 22:58

寄從孫崇簡

嵯峨白帝城東西,
南有龍湫北虎溪。
吾孫騎曹不騎馬,
業學屍鄉多養雞。
龐公隱時盡室去,
武陵春樹他人迷。
與汝林居未相失,
近身藥裹酒長攜。
牧豎樵童亦無賴,
莫令斬斷青雲梯。

 

Ký tòng tôn Sùng Giản

Tha nga Bạch Đế thành đông tây (tê),
Nam hữu Long thu, bắc Hổ khê.
Ngô tôn kỵ tào bất kỵ mã,
Nghiệp học Thi Hương đa dưỡng kê.
Bàng công ẩn thì tận thất khứ,
Vũ Lăng xuân thụ tha nhân mê.
Dữ nhữ lâm cư vị tương thất,
Cận thân dược lý tửu trường huề.
Mục kiến tiều đồng diệc vô lại,
Mạc linh trảm đoạn thanh vân thê.

 

Dịch nghĩa

Cả hai bên đông lẫn tây của thành Bạch Đế đều bát ngát,
Phía nam có đầm Rồng, phía bắc là khe Hổ.
Cháu của ta cưỡi quan chứ chẳng cuỡi ngựa,
Nghiệp đi học của làng Thi Hương phần lớn là nuôi gà.
Lúc ở ẩn, Bàng Đức Công đã giắt cả nhà đi theo,
Cây xuân nơi Vũ Lăng làm người khác ham mê.
Với cháu ở trong rừng chưa chắc là thua thiệt,
Có sẵn cây thuốc bên mình, rượu kè kè mãi.
Đứa chăn trâu, trẻ kiếm củi cũng không cần nhờ đến,
Chớ khiến chặt đứt cái thang mây xanh đi.


(Năm 767)

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Đông tây bát ngát, thành Bạch Đế
Nam có đầm Rồng, bắc khe Hổ.
Lối học Thi Hương chỉ nuôi gà,
Cháu ta cưỡi quan, không cưỡi ngựa.
Ông Bàng đi ẩn mang cả nhà,
Cây xuân Vũ Lăng lắm kẻ ngộ.
Cháu ở trong rừng chưa hẳn thua,
Cây thuốc gần kề, rượu uống đã.
Trẻ chăn, kiếm củi chẳng cần nhờ,
Đừng sai chặt đứt thang xanh đó.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Bát ngát đông tây thành Bạch Đế
Nam đầm Rồng, suối Hổ bắc phương
Cháu không cưỡi ngựa, cưỡi quan
Thi Hương việc học đa phần dưỡng kê
Bàng Công dắt cả nhà ở ẩn
Cây Vũ Lăng ngơ ngẩn người xem
Trong rừng cháu chẳng bon chen
Sẵn cây thuốc quý, rượu đem bên mình
Chăn trâu kiếm củi không màng
Chớ nên chặt đứt thang xanh mây ngàn.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời