15.00
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
3 bài trả lời: 3 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 26/01/2009 06:49, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 08/02/2015 17:49

楠樹為風雨所拔嘆

倚江楠樹草堂前,
故老相傳二百年。
誅茅卜居總為此,
五月仿佛聞寒蟬。
東南飄風動地至,
江翻石走流雲氣。
乾排雷雨猶力爭,
根斷泉源豈天意。
滄波老樹性所愛,
浦上童童一青蓋。
野客頻留懼雪霜,
行人不過聽竽籟。
虎倒龍顛委榛棘,
淚痕血點垂胸臆。
我有新詩何處吟,
草堂自此無顏色。

 

Nam thụ vị phong vũ sở bạt thán

Ỷ giang nam thụ thảo đường tiền,
Cố lão tương truyền nhị bách niên.
Tru mao bốc cư tổng vi thử,
Ngũ nguyệt phảng phật văn hàn thiền.
Đông nam phiêu phong động địa chí,
Giang phiên thạch tẩu lưu vân khí.
Càn bài lôi vũ do lực tranh,
Căn đoạn tuyền nguyên khởi thiên ý.
Thương ba lão thụ tính sở ái,
Phố thượng đồng đồng nhất thanh cái.
Dã khách tần lưu cụ tuyết sương,
Hành nhân bất quá thính vu lại.
Hổ đảo long điên uỷ trăn cức,
Lệ ngân huyết điểm thuỳ hung ức.
Ngã hữu tân thi hà xứ ngâm,
Thảo đường tự thử vô nhan sắc.

 

Dịch nghĩa

Cạnh sông, trước nhà cỏ có cây nam,
Theo các bậc già cả thì cây này có đến hai trăm năm rồi.
Phát cỏ, chọn chỗ ở nói chung là như thế,
Tháng năm nghe tiếng ve kêu rỉ rả.
Gió đông nam đùng đùng thổi tới,
Sông cuộn đá nhào kéo theo mây.
Gốc phơi ra giữa sấm mưa nhờ cố sức,
Rễ cắt ngang nguồn suối chẳng phải là ý trời sao.
Cây già, sóng biếc tính vốn ưa,
Trên bến um tùm một cột xanh.
Dân làng thường núp dưới để tránh tuyết sương,
Khách đường không rời, để nghe tiếng vi vu như sáo.
Hổ vồ, rồng cuốn đổ gục xuống bụi gai,
Nước mắt rơi, máu thấm nơi ngực.
Ta có bài thơ mới, biết ngồi nơi nào mà ngâm,
Nhà cỏ từ đó trông trơ trẽn.


(Năm 762)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Trung Thông

Dựa sông, cây sến trước lều gianh,
Các cố bảo đà hai trăm năm.
Phạt gianh cất nhà đều ở đó,
Tháng năm phảng phất tiếng ve ngâm.
Cơn gió đông nam chuyển đất tới,
Sóng tung, đá chạy, mây xô đuổi.
Thân xông mưa gió chống đến cùng,
Rễ bật cội nguồn đâu phải tội.
Cây già bên sông tính đáng mến,
Lồng lộng tàn xanh che trước bến.
Ẩnh tránh tuyết sương khách đến đây,
Qua đường nghe sáo người lưu luyến.
Hổ rồng ngã xuống gửi gai góc,
Máu lệ rỏ tuôn dòng trước ngực,
Thơ mới ta nay ngâm ở đâu?
Từ đây lều cỏ không tươi sắc.


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Nhà cỏ cây chò dựa mé sông,
Hai trăm năm có, lời lão ông.
Phạt tranh dựng nhà ngay bến ấy,
Tháng năm trời lạnh tiếng ve lồng.
Trận gió đông nam đưa đất cát,
Đá lăn sông lật khí mây dạt,
Dập vùi mưa sấm chống đến cùng,
Rễ đứt cội nguồn, há trời phạt.
Ta mến cây già chịu rét cóng,
Phố thấp nổi xanh chỉ một bóng,
Khách quê thường lại tránh tuyết sương,
Người đi chưa tới nghe nhạc vọng.
Cọp dãy rồng điên vùi gai gắm,
Lệ nhỏ máu rơi giàn ngực thấm,
Thơ mới ta làm ngâm ở đâu?
Lều cỏ từ đây phai sắc thắm!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Cây nam cạnh sông, trước nhà cỏ,
Tuổi hai trăm, theo người già kể.
Phát cỏ, lập nhà thật đúng nơi,
Tháng năm nghe ve kêu rỉ rả.
Gió mạn đông nam đùng đùng tới,
Gió cuộn, đá nhào mây trời nổi.
Nhờ sức, gốc phơi giữa sấm, mưa,
Ý trời, rễ cắt ngang nguồn suối.
Sóng biếc, cây già tính vốn khứng,
Trên bến um tùm cột xanh đứng.
Dân làng thường núp tránh tuyết sương,
Khách đường dừng lại nghe sáo lửng.
Cọp vồ, rồng cuốn, bụi gai gục.
Lệ rơi, máu đổ thấm nơi ngực.
Thơ ta mới làm, nơi nào ngâm,
Từ đó nhà cỏ trông trống lốc.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời