Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 27/04/2015 22:15

熱其三

朱李沈不冷,
雕胡炊屢新。
將衰骨盡痛,
被褐味空頻。
欻翕炎蒸景,
飄搖征戍人。
十年可解甲,
為爾一沾巾。

 

Nhiệt kỳ 3

Chu lý trầm bất lãnh,
Điêu hồ xuy lũ tân.
Tương suy cốt tận thống,
Bị hạt vị không tần.
Thúc hấp viêm chưng cảnh,
Phiêu diêu chinh thú nhân.
Thập niên khả giải giáp,
Vị nhĩ nhất triêm cân.

 

Dịch nghĩa

Ngâm mận đỏ trong nước mà nó cũng chẳng lạnh cho,
Lúa mọi càng mới nấu.
Sắp khụm nên xương đau vô cùng,
Nghèo túng nên vị thường tẻ nhạt.
Cái cảnh nóng bức sinh ngột ngạt,
Người lính nơi tiền đồn thấy lao đao.
Mười năm rồi, có thể cởi bỏ áo lính được,
Vì mi mà khăn thấm đầy nước mắt.


(Năm 766)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Mận đỏ ngâm chẳng mát,
Lúa mọi nấu nhiều lần.
Sắp quị, xương đau nhức,
Nghèo túng vị thường đơn.
Cảnh nóng bức ngột ngạt,
Lính thú bao khó khăn.
Mười năm bò áo giáp,
Vì mi khăn ướt đầm.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Mận đỏ ngâm nước không lạnh được
Thịt diều hâu trong sạch nấu ăn
Xương đau vì sắp suy tàn
Vì nghèo khẩu vị nhiều lần nhạt suông
Nóng ngùn ngụt cảnh sinh ngột ngạt
Lính biên thuỳ bi đát lao đao
Mười năm áo lính thoát bào
Vì mi nước mắt thấm vào khăn tay.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời