Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 09/03/2014 18:29

瘴癘浮三蜀,
風雲暗百蠻。
捲簾唯白水,
隱幾亦青山。
猿捷長難見,
鷗輕故不還。
無錢從滯客,
有鏡巧催顏。

 

Muộn

Chướng lệ phù Tam Thục,
Phong vân ám bách man.
Quyển liêm duy bạch thuỷ,
Ẩn kỷ diệc thanh sơn.
Viên tiệp trường nan kiến,
Âu khinh cố bất hoàn.
Vô tiền tòng trệ khách,
Hữu kính xảo thôi nhan.

 

Dịch nghĩa

Ba vùng Thục khí độc ngùn ngụt,
Gió mây mờ nơi trăm chỗ Rợ ở.
Cuốn rèm lên chỉ có nước trắng xoá,
Ngồi co ro trên ghế thấy ngọn núi xanh.
Khỉ chuyền lâu mãi mới thấy,
Thân le nhẹ nên không quay lui.
Không tiền nên là người bị bỏ quên,
Có gương thì khéo chăm nhan sắc.


(Năm 767)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Ba Thục mây đen kịt
Trăm mường khí độc kinh
Cuốn mành toàn nước trắng
Tựa án cũng non xanh
Đi mãi thân âu nhẹ
Nhìn đâu bóng vượn nhanh?
Đường cùng tiền ghét mặt
Gương sáng bóng trêu hình


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Ba vùng Thục, khí ám,
Trăm Man gió mây trôi.
Cuốn rèm, nước trắng rặt,
Tựa ghế, núi xanh thôi.
Vượn lẹ nhìn khó thấy,
Cò nhẹ không trở lui.
Không tiền, kẻ ngồi xó,
Có kính, nhan sắc tươi.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời