Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 17/04/2015 22:24

過故斛斯校書莊其一

此老已雲歿,
鄰人嗟亦休。
竟無宣室召,
徒有茂陵求。
妻子寄他食,
園林非昔遊。
空餘繐帷在,
淅淅野風秋。

 

Quá cố Hộc Tư hiệu thư trang kỳ 1

Thử lão dĩ vân tồ,
Lân nhân ta diệc hưu.
Cánh vô Tuyên Thất triệu,
Đồ hữu Mậu Lăng cầu.
Thê tử ký tha thực,
Viên lâm phi tích du.
Không dư huệ duy tại,
Tích tích dã phong thu.

 

Dịch nghĩa

Ông già này đã qua đời,
Hàng xóm cũng thôi không ca thán nữa.
Chiếu nhà vua không còn hỏi đến,
Mà ông cũng không phải là dân Mậu Lăng cần đến.
Vợ con trông cậy vào ông để có miếng ăn,
Vườn rừng không phải là nơi rong chơi trước kia.
Màn cửa thưa không còn đó nữa,
Gió đồng thu hiu hắt.


(Năm 764)

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Già này nay khuất bóng,
Hàng xóm hết than phiền.
Tuyên Thất đã chẳng gọi,
Mậu Lăng cũng không cần.
Bám ông, vợ con sống,
Chốn xưa chẳng núi vườn
Màn huệ nay còn lại,
Đồng thu gió rì rầm.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Ông già này số phần đã mãn
Hàng xóm lời tán thán cũng thôi
Cuối cùng Tuyên Thất hết mời
Mậu Lăng bè bạn cũng lơi mong cầu
Vợ con gửi nơi giàu sinh sống
Vườn rừng đâu là chốn rong chơi
Màn thưa còn đó tả tơi
Gió thu hiu hắt thổi nơi ruộng đồng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời