Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
4 bài trả lời: 4 bản dịch
Từ khoá: thanh minh (31)
Đăng bởi hongha83 vào 24/10/2008 05:02

清明其二

此身飄泊苦西東,
右臂偏枯半耳聾。
寂寂繫舟雙下淚,
悠悠伏枕左書空。
十年蹴踘將雛遠,
萬里秋千習俗同。
旅雁上雲歸紫塞,
家人鑽火用青楓。
秦城樓閣煙花裏,
漢主山河錦繡中。
風水春來洞庭闊,
白蘋愁殺白頭翁。

 

Thanh minh kỳ 2

Thử thân phiêu bạc khổ tây đông,
Hữu tý thiên khô bán nhĩ lung.
Tịch tịch hệ chu song há lệ,
Du du phục chẩm, tả thư không.
Thập niên xúc cúc tương sô viễn,
Vạn lý thu thiên tập tục đồng.
Lữ nhạn thượng vân quy tử tái,
Gia nhân toàn hoả dụng thanh phong.
Tần thành lâu các yên hoa lý,
Hán chủ sơn hà cẩm tú trung.
Phong thuỷ xuân lai Động Đình khoát,
Bạch tần sầu sát bạch đầu ông.

 

Dịch nghĩa

Thân này phiêu bạc khổ ở nhiều nơi rồi,
Cánh tay phải bị cứng nhắc, nửa tai lại bị điếc.
Lủi thủi cột con thuyền mà hai dòng nước mắt rơi,
Rầu rầu nằm gối mà tay trái ngoắc ngoắc viết trên không.
Mười năm rồi, tay bồng con, chân đá cầu,
Suốt cả đường dài vạn dặm, nơi nơi đều có cây đu, tục này giống nhau.
Nhạn xa trên mây bay về vùng quan ải bụi đỏ,
Người nhà nhen lửa bằng lá phong xanh.
Lầu gác trên thành xứ Tần lẩn trong vùng hoa khói,
Giang sơn của vua Hán nổi trong chốn thanh lịch.
Mùa xuân gió, nước về khiến cho hồ Động Đình trông bao la,
Rau tần trắng kia gợi mối sầu khiến cho lão đầu trắng này buồn muốn chết.


(Năm 770)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Xiêu dạt thân ta cực khổ hoài!
Dệt bên cánh phải! Điếc bên tai!
Bút kề bên gối tay cầm trái!
Thuyền buộc bên sông lệ rỏ đôi!
Cơm kiếm nuôi con đi mãi mãi!
Đu trồng theo tục khắp nơi nơi!
Nhà ai dùi lửa phong xanh đượm!
Đàn nhạn tung mây ải tía khơi!
Sông núi trập trùng màu gấm vóc
Khói hoa thấp thoáng bóng lâu đài
Sóng xuân hồ rộng xuân càng rộng!
Dong trắng nhìn thương tóc trắng dài!


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Thân này phiêu bạc khổ tây đông,
Bên phải liệt tay, bên điếc bùng.
Vắng vẻ buộc thuyền, hai lệ chảy,
Nằm buồn tay trái viết lên không.
Vạn dặm cây đu tục vẫn vậy,
Mười năm cầu đá, nách con bồng.
Đàn nhạn sương mây về ải tía,
Nhà nhà nhóm lửa lá thanh phong.
Nhà Hán giang sơn như gấm dệt,
Thành Tần lầu gác khói hoa lồng.
Gió nước Động Đình xuân rộng mở,
Bạc tần, sầu chết bạc đầu ông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Thân này khắp chốn khổ phiêu bạc,
Tay phải đau nhừ, nửa tai điếc.
Thui thủi cột thuyền lệ hai hàng,
Rầu rầu nằm gối, tay trái ngoắc.
Mười năm cầu đá, ẵm con thơ,
Vạn dặm cây đu, chơi chẳng khác.
Nhạn khách tung mây tới ải xa,
Người nhà nhen lửa dùng lá ướt.
Lầu gác thành Tần giữa mây hoa,
Giang sơn vua Hán như gấm vóc.
Gió nước Động Đình rộng: xuân về,
Tần trắng buồn giết ông đầu bạc.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Thân này khổ vì di chuyển mãi
Tai kém nghe, tay phải khó đưa
Buộc thuyền nước mắt như mưa
Ngả đầu trên gối, viết bừa vào không

Kiếm nuôi con mười năm phiêu bạc
Qua cây đu tập tục giống nhau
Nhạn bay về ải tía màu
Người nhà lấy lửa dùi đầu phong xanh

Lầu gác trong Tần thành vương khói
Hán giang sơn sáng chói gấm thêu
Dáng xuân về lộng gió chiều
Hái rau tần trắng, sầu nhiều lão ông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời