子規

峽裏雲安縣,
江樓翼瓦齊。
兩邊山木合,
終日子規啼。
眇眇春風見,
蕭蕭夜色淒。
客愁那聽此,
故作傍人低。

 

Tử quy

Hạp lý Vân An huyện,
Giang lâu dực ngoã tề.
Lưỡng biên sơn mộc hiệp,
Chung nhật tử quy đề.
Diểu diểu xuân phong kiến,
Tiêu tiêu dạ sắc thê.
Khách sầu na thính thử,
Cố tác bàng nhân đê.

 

Dịch nghĩa

Trong vùng kẽm thuộc huyện Vân An,
Nơi lầu bên sông, cánh chim giống như màu ngói.
Hai bên kẽm, cây núi chụm vào nhau,
Trong đó, chim cuốc kêu.
Trong gió xuân loáng thoáng thấy,
Màn đêm len lén đậu.
Khách buồn nào có dám nghe cái đó,
Nên cứ tảng lờ như không.


(Năm 766)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Ngọc

Trong hẻm huyện Vân An,
Lầu sông vươn đôi cánh.
Hai bên, cây núi dàn,
Ngày tử quy lanh lảnh.
Gió xuân phơ phất thổi,
Đêm đêm sắc buồn tênh.
Khách buồn nghe tiếng gọi,
Cố làm vẻ vô tình.


Nguồn: Phan Ngọc, Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn một ngàn bài thơ, NXB Văn hoá thông tin, 2001
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Huyện Vân An, vùng kẽm,
Cánh ngói lầu sông chung.
Suốt ngày chim cuốc khóc,
Hai bên cây núi trùng.
Đêm về đậu len lén,
Gió xuân thấy ngập ngừng.
Khách buồn nghe sao nổi,
Cố làm người dửng dưng.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Huyện Vân An, kẽm nước
Giang lâu mái ngói dày
Hai sườn non cây chụm
Cuốc cuốc kêu suốt ngày.
Thấy gió xuân nhè nhẹ
Đêm sương lặng lẽ rơi
Khách sầu nghe tiếng đó
Giấu người bên, buồn ơi!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời