送舍弟頻赴齊州其一

岷嶺南蠻北,
徐關東海西。
此行何日到,
送汝萬行啼。
絕域惟高枕,
清風獨杖藜。
危時暫相見,
衰白意都迷。

 

Tống xá đệ Dĩnh phó Tề châu kỳ 1

Mân lĩnh, nam man bắc,
Từ quan, đông hải tây.
Thử hành hà nhật đáo,
Tống nhữ vạn hàng đề.
Tuyệt vực duy cao chẩm,
Thanh phong độc trượng lê.
Nguy thì tạm tương kiến,
Suy bạc ý đô mê.

 

Dịch nghĩa

Núi Mân ở phía bắc vùng các dân tộc phía nam,
Từ quan là phía tây của biển đông.
Lần này em đi thì bao giờ tới nơi,
Tiễn chú mà rơi hàng vạn giọt nước mắt.
Ở chốn cheo leo này chỉ có nằm khàn thôi,
Và chống gậy lê đi trong gió mát.
Trong lúc gian nan, gặp nhau ít vậy thôi,
Đã già lại bệnh nên tư tưởng cứ mê muội.


(Năm 764)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Mân lĩnh, bắc vùng mọi,
Từ quan, tây biển đông.
Giờ đi, ngày nào tới,
Tiễn chú, lệ vạn dòng.
Chỉ biết ngủ: đất cụt,
Chống gậy lê: gió trong.
Thời loạn gặp nhau ít,
Tật bệnh ngổn ngang lòng.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Man di nam, núi Mân phía bắc
Tây biển đông nằm dọc ải Từ
Nay đi sẽ tới bao giờ
Tiễn em mà lệ mắt mờ cứ tuôn
Chốn hẻo lánh chỉ luôn nằm khểnh
Hóng gió trong thì chống gậy lê
Loạn ly tạm gặp, em về
Tuổi già tóc bạc anh mê lú rồi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời