涪城縣香積寺官閣

寺下春江深不流,
山腰官閣迥添愁。
含風翠壁孤雲細,
背日丹楓萬木稠。
小院回廊春寂寂,
浴鳧飛鷺晚悠悠。
諸天合在藤蘿外,
昏黑應須到上頭。

 

Phù Thành huyện Hương Tích tự quan các

Tự hạ xuân giang thâm bất lưu,
Sơn yêu quan các quýnh thiêm sầu.
Hàm phong thuý bích cô vân tế,
Bối nhật đan phong vạn mộc trù.
Tiểu viện hồi lang xuân tịch tịch,
Dục phù phi lộ vãn du du.
Chư thiên hợp tại đằng la ngoại,
Hôn hắc ưng tu đáo thượng đầu.

 

Dịch nghĩa

Dưới chân chùa, dòng sông sâu trong mùa xuân không chảy,
Gác cửa tam quan nhìn vòng ngay lưng núi khiến càng thêm buồn.
Mảng mây lẻ tẻ được gió ngậm đưa về nơi vách núi xanh,
Có hàng vạn cây phong đỏ phơi nơi lưng trời.
Mùa xuân êm đềm nơi viện nhỏ, hành lang quanh quất,
Buổi chiều rầu rầu có cò bay và le le tắm.
Các từng trời tụ lại bên ngoài đám dây leo,
Muốn dứt bỏ cảnh đen tối thì nên lên đến tới đầu kia.


(Năm 763)

Chùa Hương Tích trong núi Hương Tích, ngay sông Bồi, thuộc huyện Bồi Thành (Tân Châu, Tam Thai, Tứ Xuyên).

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Sông lặng bên chùa đứng nước sâu
Gác quan lưng núi dục cơn sầu
Gió im, mây phớt ngàn xanh mỏng
Nắng rợp, cây trùm lá đỏ mau
Viện nhỏ, hiên quanh, xuân vắng ngắt
Cò bay, le lội, tối về đâu?
Các trời chắc ở ngoài dây rợ
Đêm sẽ lần lên đỉnh gác cao


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Dưới chùa, ngưng đọng dòng xuân sâu,
Nhìn sang lưng núi, gác thêm sầu.
Vạn cây phong đỏ lưng trời nhú,
Mảnh ráng, sườn xanh miệng gió chu.
Xuân tĩnh, hiên quanh nơi viện nhỏ,
Chiều buồn, cò lượn với bày âu.
Ngoài cõi dây leo, nơi Phật trú,
Muốn rũ lầm than, tới tận đầu.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời