Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Từ khoá: gà (36) nuôi gà (1)
Đăng bởi Vanachi vào 27/01/2009 21:02, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 24/02/2015 13:31

催宗文樹雞柵

吾衰怯行邁,
旅次展崩迫。
愈風傳烏雞,
秋卵方漫吃。
自春生成者,
隨母向百翮。
驅趁制不禁,
喧呼山腰宅。
課奴殺青竹,
終日憎赤幘。
蹋藉盤案翻,
塞蹊使之隔。
牆東有隙地,
可以樹高柵。
避熱時來歸,
問兒所為跡。
織籠曹其內,
令人不得擲。
稀間可突過,
觜爪還汙席。
我寬螻蟻遭,
彼免狐貉厄。
應宜各長幼,
自此均勍敵。
籠柵念有修,
近身見損益。
明明領處分,
一一當剖析。
不昧風雨晨,
亂離減憂戚。
其流則凡鳥,
其氣心匪石。
倚賴窮歲晏,
撥煩去冰釋。
未似屍鄉翁,
拘留蓋阡陌。

 

Thôi Tông Văn thụ kê sách

Ngô suy khiếp hành mại,
Lữ thứ triển băng bách.
Dũ phong truyền ô kê,
Thu noãn phương mạn ngật.
Tự xuân sinh thành giả,
Tuỳ mẫu hướng bách cách.
Khu sấn chế bất cấm,
Huyên hô sơn yêu trạch.
Khoá nô sát thanh trúc,
Chung nhật tăng xích trách.
Tháp tạ bàn án phiên,
Tái hề sử chi cách.
Tường đông hữu khích địa,
Khả dĩ thụ cao sách.
Tỵ nhiệt thì lai quy,
Vấn nhi sở vi tích.
Chức lung tào kỳ nội,
Linh nhân bất đắc trịch.
Hy gian khả đột quá,
Tuỷ trảo hoàn ô tịch.
Ngã khoan lâu nghĩ tao,
Bỉ miễn hồ lạc ách.
Ưng nghi các trường ấu,
Tự thử quân kình địch.
Lung sách niệm hữu tu,
Cận thân kiến tổn ích.
Minh minh lĩnh xứ phân,
Nhất nhất đương phẫu tích.
Bất muội phong vũ thần,
Loạn ly giảm ưu thích.
Kỳ lưu tắc phàm điểu,
Kỳ khí tâm phỉ thạch.
Ỷ lại cùng tuế yến,
Bát phiền khứ băng thích.
Vị tự Thi Hương ông,
Câu lưu cái thiên mạch.

 

Dịch nghĩa

Tôi già yếu nên ngại làm việc,
Sống nơi quê người lại càng thêm dồn dập.
Theo truyền tụng, gà ác dùng để trị gió,
Vào mùa thu, trứng gà ăn thừa bứa.
Từ mùa xuân là lúc nở ra,
Cả trăm cái cánh theo sau mẹ.
Xua đuổi, ngăn chặn chúng đều không được,
Nhà lại ở ngang sườn núi nên tiếng cứ vang ầm.
Sai người làm đi chặt tre xanh,
Suốt ngày bực với con gà trống.
Giẫm, xéo chuyển bàn với ghế,
Kẹt lối thì xích ra cho có chỗ.
Bên tường phía đông có rẻo đất hẹp,
Có thể đặt cái chuồng gà cao.
Khi cần bóng mát thì có nơi về,
Dặn con nhớ lấy lối.
Cả lũ tụm trong lồng đan đó,
Khiến người không được ném.
Ít khoảng cách để mà len vào.
Móng cựa dơ dáy mà leo lên giường.
Ta rộng lượng để cho lũ kiến đi vòng quanh,
Mi thoát được cái ách cái cáo cầy.
Thích hợp cho cả già lẫn trẻ,
Từ đây ngang sức với kẻ địch.
Lồng chuồng nghĩ đã làm xong,
Xét lại mình thấy cả lợi lẫn hại.
Đảm trách việc phân xử phải rõ ràng,
Phân tích cần minh bạch.
Buổi sáng gió mưa không tiêu diệt được nó,
Làm giảm bớt đau thương trong buổi loạn li.
Cái loại đó tất là thuộc loại chim phượng,
Cái khí lòng không trơ trơ như đá.
Tuổi già cùng quẫn có đôi điều mong muốn,
Gạt nỗi phiền và loại bỏ lòng nghi ngờ.
Chưa được như ông ở núi Thi Hương.
Vì tôi giam gà không cho chạy rông ngoài đường.


(Năm 766)

Tông Văn là con trai của Đỗ Phủ.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Ta già sợ đi xa,
Rày đây mai đó mệt.
Trị phong truyền gà đen,
Trứng thu ăn dần hết.
Sang xuân để ấp con,
Theo mẹ trăm cánh rúc.
Đuổi đi lại quẩn về,
Kêu ầm nhà, liếc chiếc.
Đạp xéo, đổ mâm bàn,
Cả ngày quanh trướng nghịch.
Bảo đứa ở chặt tre,
Rào đường ngăn chắn quách.
Tường đông có đất quang,
Có thể dựng chuồng được.
Đan lồng nhốt chúng trong,
Bắt vào không để thoát.
Lỗ thưa chúng rúc qua,
Mỏ chân dơ chiếu hết.
Tránh nắng trưa về nhà,
Hỏi con xem công việc.
Thưa: kiến hết sợ gà ăn,
Gà hết lo chồn bắt.
Chắc lớn bé đều yên,
Không còn ai phá phách.
Bảo: có dựng chuồng lên,
Phải nhìn trước tổn ích.
Ngăn lồng chia loại ra,
Nhất nhất cần rành mạch.
Mưa gió gáy không lầm,
Đỡ lo ngày loạn lạc.
Giống nó là chim nhà,
Giọng nó gan đá chắc.
Trông cậy buổi năm cùng,
Lo phiền tan hết sạch.
Chưa giống lão Thi Hương,
Thú quê lòng vẫn thích.


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Ta già sợ đi xa,
Quê người càng thấy bực.
Thu, trứng ăn thoả thuê,
Trừ gió, giống gà ác.
Từ xuân đã nở rồi,
Theo mẹ, đủ năm chục.
Xua đuổi, ngăn không xong,
Nhà lưng núi oang oác.
Sai nhỏ chặt tre xanh,
Cả ngày ghét con đực.
Giẫm xéo, chuyển ghế bàn,
Khai thông nếu lối tắc.
Có kẽ bên tường đông,
Chuồng gà có thể đặt.
Tránh nắng hẳn có nơi,
Lũ con được săn sóc.
Cả lũ nằm trong chuồng,
Khiến người không thể bắt.
Ít kẽ, khó lọt vào,
Giường dơ, mỏ cựa rúc.
Ta tha kiến bò quanh,
Nó thoát ách hồ hạc.
Lớn bé đều thảnh thơi,
Từ đây ngang bằng sức.
Lồng chuồng nghĩ làm xong,
Xét mình thấy thua, được.
Phân xử phải rõ ràng,
Giải thích cần đích xác.
Không quên sáng gió mưa,
Bứt lo phiền loạn lạc.
Đó là phượng, chim thần,
Lòng không như đá chắc.
Tuổi già quẫn, những mong,
Tránh phiền, né ngờ vực.
Chưa giống ông Thi Hương,
Đường lối còn ràng buộc.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời