Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 08/04/2015 22:00

有感其二

幽薊餘蛇豕,
乾坤尚虎狼。
諸侯春不貢,
使者日相望。
慎勿吞青海,
無勞問越裳。
大君先息戰,
歸馬華山陽。

 

Hữu cảm kỳ 2

U Kế dư xà thỉ,
Càn khôn thượng hổ lang.
Chư hầu xuân bất cống,
Sứ giả nhật tương vương.
Thận vật thôn Thanh Hải,
Vô lao vấn Việt Thường.
Đại quân tiên tức chiến,
Qui mã Hoa Sơn dương.

 

Dịch nghĩa

U châu, Kế châu có dư rắn, lợn,
Trong trời đất còn đầy hổ, lang.
Mùa xuân các chư hầu không cống nữa,
Sứ giả ngày mất dần.
Cẩn thận chớ có xâm lấn vùng Thanh Hải,
Chớ bận lòng mà hỏi đến Việt Thường.
Quân đội nước lớn trước hết ngưng chiến tranh,
Đưa ngựa về phía đông của núi Hoa đi.


(Năm 764)

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

U, Kế dư đảng còn,
Đất trời hổ lang dượt.
Chư hầu chẳng cống xuân,
Sứ giả ngày càng ít.
Việt Thường cũng đừng mong,
Thanh Hải chớ lấn át.
Lui ngựa về Hoa Sơn,
Nước lớn ngưng quân trước.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Châu U, Kế có dư rắn lợn
Trong đất trời còn bộn hổ lang
Chư hầu hết cống mùa xuân
Riêng phần sứ giả thì không việc làm
Cẩn thận chớ xâm lăng Thanh Hải
Chớ bận lòng mà hỏi Việt Thường
Trước tiên ngưng hết chiến tranh
Ngựa đưa về trú Hoa Sơn nam phần.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời