Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 16/04/2015 22:27

過故斛斯校書莊其二

燕入非旁舍,
鷗歸只故池。
斷橋無複板,
臥柳自生枝。
遂有山陽作,
多慚鮑叔知。
素交零落盡,
白首淚雙垂。

 

Quá cố Hộc Tư hiệu thư trang kỳ 2

Yến nhập phi bàng xá,
Âu qui chỉ cố trì.
Đoạn kiều vô phục bản,
Ngoạ liễu tự sinh chi.
Toại hữu Sơn Dương tác,
Đa tàm Bão Thúc tri.
Tố giao linh lạc tận,
Bạch thủ lệ song thuỳ.

 

Dịch nghĩa

Chim yến bay vào nhưng không phải là để tìm tổ,
Con cò trở lại chỉ vì cái ao xưa.
Cầu long không bắc lại ván,
Cây liễu gãy tự mọc thêm cành.
Đã có sáo thổi giống như Sơn Dương,
Nhưng lại thẹn ông Bão Thúc Nha biết rõ!
Những bạn cũ nay phân cách cả,
Đầu bạc mà hai hàng lệ tuôn rơi!


(Năm 764)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Cò về vì ao cũ,
Yến tới chẳng nhờ tranh.
Cầu gãy khó bắc ván,
Liễu gãy lại mọc cành,
Đã có Sơn Dương khúc,
Những thẹn Bão Thúc rành.
Bạn cũ nay xa cách,
Đầu bạc mắt long lanh.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Én bay vào không ngoài kèo cột
Âu trở về vì tiếc ao xưa
Gẫy cầu ghép ván cũng thừa
Đổ nằm liễu cũng tự đưa thêm cành
Việc đã có Sơn Dương làm sẵn
Lại thẹn nhiều vì Bảo Thúc hay
Bạn thân lưu lạc tan bầy
Tóc đầu đã bạc hai hàng lệ rơi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời