雨其一(青山淡無姿)

青山淡無姿,
白露誰能數。
片片水上雲,
蕭蕭沙中雨。
殊俗狀巢居,
曾臺俯風渚。
佳客適萬裏,
沈思情延佇。
掛帆遠色外,
驚浪滿吳楚。
久陰蛟螭出,
寇盜復幾許。

 

Vũ kỳ 1 (Thanh sơn đạm vô tư)

Thanh sơn đạm vô tư,
Bạch lộ thuỳ năng số.
Phiến phiến thuỷ thượng vân,
Tiêu tiêu sa trung vũ.
Thù tục trạng sào cư,
Tằng đài phủ phong chử.
Giai khách thích vạn lý,
Trầm tư tình diên trữ.
Quải phàm viễn sắc ngoại,
Kinh lãng mãn Ngô Sở.
Cửu âm giao ly xuất,
Khấu đạo phục kỷ hử.

 

Dịch nghĩa

Núi xanh buồn vô duyên,
Sương trắng ai mà đếm hết.
Mảng mảng là mây trên nước,
Rào rào mưa trên cát.
Tục lệ lạ ở giống như tổ chim,
Nhà sàn nép dưới gió bãi.
Khách hiền đi ngàn dặm,
Nghĩ sâu lòng vướng vít.
Giương buồm ngoài nơi tít mù,
Sóng dữ đầy nơi vùng Ngô, Sở.
Nơi đen tối lâu rồng rắn hiện,
Giặc cướp liệu còn bao nhiêu?


(Năm 766)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Non xanh ủ rũ buồn,
Giọt trắng đếm sao xiết.
Ngoài bãi mưa thấp thao,
Trên sông mây xám xịt.
Bến gió dựng nhà sàn,
Như tổ chim chi chít.
Muôn dặm, khách lên đàng,
Đoái trông lòng vấn vít.
Sông Ngô sóng lộn trời,
Buồm kéo ngoài xa tít.
Rồng rắn giỡn chiều râm,
Trộm, giặc còn nhiều ít?


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống dịch, NXB Văn hoá - Thông tin, 1996
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Núi xanh thật lãng xẹt,
Móc trắng ai đếm hết.
Mảng mảng mây trên sông,
Rào rào mưa trên cát.
Tục lạ, nhà tổ chim,
Tránh gió, tầng chồng chất.
Vạn dặm người khách qua,
Nghĩ thầm lòng vướng vít.
Ngô, Sở sóng lớn nhiều,
Giăng buồm nơi xa tít.
Rồng rắn bò, tối lâu,
Giặc giã còn nhiều ít?

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời