歲暮

歲暮遠為客,
邊隅還用兵。
煙塵犯雪嶺,
鼓角動江城。
天地日流血,
朝廷誰請纓。
濟時敢愛死,
寂寞壯心驚。

 

Tuế mộ

Tuế mộ viễn vi khách,
Biên ngung hoàn dụng binh.
Yên trần phạm Tuyết lĩnh,
Cổ giốc động Giang thành.
Thiên địa nhật lưu huyết,
Triều đình thuỳ thỉnh anh.
Tế thì cảm ái tử,
Tịch mịch tráng tâm kinh.

 

Dịch nghĩa

Cuối năm rồi mình vẫn là khách nơi xa,
Thành nơi biên giới này vẫn còn lâm vào cảnh chiến tranh.
Khói bụi tràn tới vùng núi Tuyết lĩnh,
Tiếng trống trận lẫn tù và vang dậy nơi Giang thành.
Trời đất máu chảy hàng ngày,
Ở triều đình ai xin vua ban giải mũ để ra trói quân thù?
Lúc cần cấp này dám không sợ chết,
Cứ ngại cái lòng của thân trai bị hao mòn thôi.


(Tháng 12 năm 763)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Cuối năm mòn thân khách,
Ngoài biên giặc chửa ngừng.
Bụi mù xông núi tuyết,
Trống ốc dậy thành sông.
Trời đất ngày thâm máu,
Triều đình ai ấy trung?
Cứu đời dám chịu chết,
Sốt ruột phải ngồi không.


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Cuối năm vẫn thân khách,
Thành biên giặc rối tung.
Tuyết lĩnh đầy khói bụi,
Giang thành chiêng trống rung.
Hàng ngày máu chảy khắp,
Triều đình ai xung phong.
Lúc cần đâu sợ chết,
Những ngại nhụt khí hùng.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Cuối năm rồi thân còn đất khách
Ngoài biên thuỳ lách cách binh đao
Núi băng khói bụi tràn vào
Tù- và trống trận xôn xao giang thành
Trời đất thoảng máu tanh chinh chiến
Nơi triều đình ai hiến mưu cao
Cứu nguy cảm tử anh hào
Không ai kêu gọi chàng nào không e.

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời