歸雁(聞道今春雁)

聞道今春雁,
南歸自廣州。
見花辭漲海,
避雪到羅浮。
是物關兵氣,
何時免客愁。
年年霜露隔,
不過五湖秋。

 

Quy nhạn (Văn đạo kim xuân nhạn)

Văn đạo kim xuân nhạn,
Nam quy tự Quảng Châu.
Kiến hoa từ Trướng Hải,
Tỵ tuyết đáo la phù.
Thị vật quan binh khí,
Hà thì miễn khách sầu.
Niên niên sương lộ cách,
Bất quá Ngũ Hồ thu.

 

Dịch nghĩa

Nghe nói nhạn xuân năm nay,
Bay về phương nam từ Quảng Châu.
Xem hoa xong rời Trướng Hải,
Tới La Phù để tránh tuyết.
Loài vật này có liên quan tới chiến sự,
Biết đến bao giờ lữ khách mới hết buồn?
Năm nào cũng xa quê đầy sương móc,
Thu này không qua Ngũ Hồ.


(Năm 768)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Phước Hậu

Xuân này chim nhạn lại,
Về nam tự Quảng Châu.
Xem hoa, xa Trướng Hải,
Trốn tuyết mãi La Phù.
Binh đao vật quan ngại,
Khi nao khách vơi sầu.
Bao lâu quê sương giải
Chẳng lại Ngũ Hồ thu.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Nhạn xuân này, nghe nói,
Bay về từ Quảng Châu.
Thấy hoa, lìa biển động,
Tránh tuyết, tới La Phù.
Giống này báo điềm loạn,
Chừng nào khách hết sầu.
Sương thu năm năm cách,
Không vượt nổi Ngũ Hồ.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Xuân năm nay nhạn về nghe nói
Từ Quảng Châu bay tới phương nam
Xem hoa Trướng Hải rỡ ràng
La Phù tránh tuyết tổ làm nơi đây
Loài vật này liên quan chiến sự
Khách xa nhà nào mới hết buồn?
Cách chia sương móc luôn luôn
Ngũ Hồ thu tới cảm thương không về.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời