Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
Thời kỳ: Thịnh Đường
3 bài trả lời: 2 bản dịch, 1 thảo luận
Từ khoá: chim nhạn (24)
Đăng bởi hongha83 vào 23/01/2010 02:16, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 23/01/2010 21:44

官池春雁其一

自古稻粱多不足,
至今鸂鶒亂為群。
且休悵望看春水,
更恐歸飛隔暮雲。

 

Quan Trì xuân nhạn kỳ 1

Tự cổ đạo lương đa bất túc,
Chí kim khê xích loạn vi quần.
Thả hưu trướng vọng khán xuân thuỷ,
Cánh khủng quy phi cách mộ vân.

 

Dịch nghĩa

Từ xưa gạo kê không đủ nhiều,
Tới giờ chim khê sắc mới tụ họp một bầy lau nhau.
Cứ cho nhìn ngóng chán chê nước xuân đi,
Rồi cũng sợ rằng bay về nơi có mây chiều.


(Năm 763)

Quan Trì nay là trấn Quan Trì, thuộc huyện Hứa Xương, tỉnh Hà Nam. Thời Tam Quốc, do ở đây đất phì nhiêu, nguồn nhiều, nước trong nên quan tướng của Tào Tháo thường cho ngựa tới đây uống, do đó có tên là Quan Trì (ao quan).

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Ngọc

Kê, gạo từ xưa thường chẳng đủ
Ngày nay vịt nước loạn thành bày
Nước xuân khoan vội nhìn mê mải
Nên sợ chiều về khó cách bay


Nguồn: Phan Ngọc, Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn một ngàn bài thơ, NXB Văn hoá thông tin, 2001
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Chữ "quan" ở tựa bài thơ

Dịch chữ Hán sang chữ Việt chưa chỉnh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Từ xưa gạo thóc ăn không đủ,
Tới giờ khê sắc tụ thành bầy.
Nếu thôi không ngóng nước dâng lớn,
Lại sợ bay về cách đám mây.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời