贈別鄭鍊赴襄陽

戎馬交馳際,
柴門老病身。
把君詩過日,
念此別驚神。
地闊峨眉晚,
天高峴首春。
為於耆舊內,
試覓姓龐人。

 

Tặng biệt Trịnh Luyện phó Tương Dương

Nhung mã giao trì tế,
Sài môn lão bệnh thân,
Bả quân thi quá nhật,
Niệm thử biệt kinh thần.
Địa khoát Nga Mi vãn,
Thiên cao Hiện Thủ xuân.
Vi vu kỳ cựu nội,
Thí mịch tính Bàng nhân.

 

Dịch nghĩa

Anh trên lưng ngựa chiến cưỡi đi xa,
Tôi nơi cửa tre thân lão già bệnh.
Cầm bài thơ của anh hơn cả ngày,
Thấy cảnh chia tay làm hoang mang tới mức nào.
Đất rộng, núi Nga Mi vào buổi chiều,
Trời cao, đỉnh núi Hiện đang vào mùa xuân.
Về trong đám người quen cũ,
Thử tìm xem có ông Bàng hay không.


(Năm 762)

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Chân trời ngựa chiến chạy,
Cửa gai thân bệnh mang.
Thơ anh cầm cả buổi,
Đủ biết lòng kinh hoàng.
Nga Mi, chiều đất rộng,
Hiện Thủ, xuân trời quang.
Tìm trong đám quen cũ,
Xem có ông họ Bàng.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Ngọc

Khi nhung mã đua sức,
Tôi cửa sài yếu đau.
Ngày thơ ông nhận được,
Hiểu biệt ly này sâu.
Chiều Nga My đất rộng,
Trời cao, núi Nghiễn xuân.
Trong số bạn quen cũ,
Bàng Đức chính người thân.


Nguồn: Phan Ngọc, Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn một ngàn bài thơ, NXB Văn hoá thông tin, 2001
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Ông xông pha thanh gươm yên ngựa
Tôi yếu già chỉ dựa cửa sài
Thơ ông cầm đã một ngày
Ngẫm ra cái cảnh chia tay kinh hồn
Chiều Nga Mi núi non rộng rãi
Trời thanh cao đỉnh núi Hiện xuân
Thử tìm trong đám lục tuần
Thân quen liệu có nhà ông họ Bàng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời