Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
4 bài trả lời: 4 bản dịch

Đăng bởi hongha83 vào 14/02/2012 10:37

秋日荊南述懷三十韻

昔承推獎分,
愧匪挺生材。
遲暮宮臣忝,
艱危袞職陪。
揚鑣隨日馭,
折檻出雲臺。
罪戾寬猶活,
幹戈塞未開。
星霜玄鳥變,
身世白駒催。
伏枕因超忽,
扁舟任往來。
九鉆巴噀火,
三蟄楚祠雷。
望帝傳應實,
昭王問不回。
蛟螭深作橫,
豺虎亂雄猜。
素業行已矣,
浮名安在哉。
琴烏曲怨憤,
庭鶴舞摧頹。
秋雨漫湘水,
陰風過嶺梅。
苦搖求食尾,
常曝報恩腮。
結舌防讒柄,
探腸有禍胎。
蒼茫步兵哭,
展轉仲宣哀。
饑籍家家米,
愁征處處杯。
休為貧士嘆,
任受眾人咍。
得喪初難識,
榮枯劃易該。
差池分組冕,
合沓起蒿萊。
不必伊周地,
皆知屈宋才。
漢庭和異域,
晉史坼中臺。
霸業尋常體,
忠臣忌諱災。
群公紛戮力,
聖慮窅裴回。
數見銘鐘鼎,
真宜法鬥魁。
願聞鋒鏑鑄,
莫使棟梁摧。
盤石圭多翦,
兇門轂少推。
垂旒資穆穆,
祝網但恢恢。
赤雀翻然至,
黃龍詎假媒。
賢非夢傅野,
隱類鑿顏坯。
自古江湖客,
冥心若死灰。

 

Thu nhật Kinh Nam thuật hoài tam thập vận

Tích thừa thôi tưởng phân,
Quý phỉ đĩnh sinh tài.
Trì mộ cung thần thiểm,
Gian nguy cổn chức bồi.
Dương tiêu tuỳ nhật ngự,
Chiết hạm xuất Vân Đài.
Tội lệ khoan do hoạt,
Can qua tắc vị khai.
Tinh sương huyền điểu biến,
Thân thế bạch câu thôi.
Mật chẩm nhân siêu hốt,
Thiên chu nhậm vãng lai.
Cửu toàn ba tốn hoả,
Tam chập Sở từ lôi.
Vọng Đế truyền ứng thật,
Chiêu Vương vấn bất hồi.
Giao ly Thẩm tác hoành,
Sài hổ loạn hùng sai.
Tố nghiệp hành dĩ hĩ,
Phù danh an tại tai.
Cầm ô khúc oán phẫn,
Đình hạc vũ tồi đồi.
Thu vũ mạn tương thuỷ,
Âm phong quá lĩnh mai.
Khổ diêu cầu thực vĩ,
Thường bộc báo ân tai.
Kết thiệt phòng sàm bính,
Tham tràng hữu hoạ thai.
Thương mang bộ binh khốc,
Triển chuyển Trọng Tuyên ai.
Cơ tịch gia gia mễ,
Sầu chinh xứ xứ bôi.
Hưu vi bần sĩ thán,
Nhậm thụ chúng nhân?
Đắc táng sơ nan thức,
Vinh khô hoạch dịch cai.
Sai trì phân tổ miện,
Hiệp đạp khởi hao lai.
Bất tất Y Chu địa,
Giai tri Khuất Tống tài.
Hán đình hoà dị vực,
Tấn sử sách trung đài.
Phách nghiệp tầm thường thể,
Trung thần kị huý tai.
Quần công phân lục lực,
Thánh lự yểu bùi hồ.
Số kiến minh chung đỉnh,
Chân nghi pháp đấu khôi.
Nguyện văn phong đích chú,
Mạc sử đống lương tồi.
Bàn thạch khuê đa tiễn,
Hung môn cốc thiểu thôi.
Thuỳ lưu tư mục mục,
Chúc võng đãn khôi khôi.
Xích tước phiên nhiên chí,
Hoàng long cự giả môi.
Hiền phi mộng Phó dã,
Ẩn loại tạc Nhan bôi.
Tự cổ giang hồ khách,
Minh tâm nhược tử hôi.

 

Dịch nghĩa

Xưa nhờ cái may có người ái mộ rồi đề cử,
Thẹn không phải là do tài của mình.
Gần già mới có chức quan trong cung,
Tất tả mặc cái áo chầu đứng hầu.
Ngày vua ngự thì ghìm cương ngựa,
Gãy ván mới ra khỏi đài mây.
Mắc lỗi nhưng nhờ vua khoan dung nên còn được sống,
Chiến tranh nên biên ải chưa thông.
Vào buổi sáng sớm, chim đen đã biến mất,
Thân thế như bóng ngựa trắng vượt qua.
Bị bệnh ôm gối nên vì thế hốt hoảng,
Con thuyền nhỏ cứ thế qua lại.
Chín lần dùi lửa phun nơi đất Ba,
Ba lượt trốn tiếng sét tại vùng Sở.
Chuyện vua Vọng Đế như có thật,
Nghi vấn về Chiêu Vương đi không về.
Bọn thuồng luồng gây rắc rối nơi hang sâu,
Lũ hổ gấu gây sáo trộn.
Cái nghiệp đành tan như thế đó,
Cái danh ôi có còn chi đâu.
Chim quạ kêu mà thêm tức giận,
Hạc trong sân múa trông buồn thiu.
Nước thu lấn trúc nơi sông Tương,
Gió lạnh thổi qua mai trên núi.
Vẫn long đong khó nhọc kiếm chút ăn,
Nhưng vẫn nhằm báo ơn lớn.
Uốn lưỡi đề phòng gậy châm chọc,
Coi xét trong bụng xem có âm mưu gì không.
Trong quãng mênh mông, quan bộ binh khóc lóc,
Đi lang thang nên ông Trọng Tuyên rầu.
Đói trông vào gạo các nhà,
Sầu bày ra chén rượu khắp nơi.
Nghỉ thì than cảnh kẻ sĩ nghèo,
Nhận chức thì người đời dè bỉu.
Thành công hay thất bại lúc đầu khó mà biết được,
Sang hay hèn phân tách ra mới dễ thấy hết.
Sai lầm mà dứt cảnh mũ áo,
Loạc choạc bước vào chốn bụi gai.
Chẳng phải là đất của Y Doãn và Chu Công,
Đều đạt được cái tài của Khuất Nguyên và Tống Ngọc.
Triều đình nhà Hán cầu hoà với vùng man di,
Sử nhà Tấn mở ra đài ở giữa.
Sự nghiệp để phù trợ là điều bình thường,
Các quan mắc vạ kiêng cấm.
Các ông rối rít chung sức lại,
Nhà vua vẫn còn lo âu.
Thấy có vài người được ghi nơi chuông với đỉnh,
Thật nên xứng bắt chước ngôi sao sáng.
Mong nghe đến việc nấu chảy gươm giáo,
Đừng có bẻ gãy những cột rường.
Đá tảng lớn, đẽo gọt ra nhiều ngọc khuê,
Cửa gặp nạn chớ có tăng chức bừa bãi cho họ.
Giao cờ công việc chớ có thúc bách,
Đặt luật lệ chớ có khe khắt.
Chim công thảnh thơi tới,
Rồng vàng há chẳng hiện sao?
Kẻ hiền không mơ ước được như ông Phó nơi đồng ruộng,
Về ẩn không ra làm quan thì giống ông Nhan Hạp đục tường sau nhà.
Từ xưa đến nay kẻ nay đây mai đó,
Thường thường mang một tấm lòng như tro nguội.


(Năm 768)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Danh được hão! Thực tài đâu có!
Đầu bạc đeo trâm mũ quan hầu
Xe trời gió chực, bụi chầu!
Đài Mây khuyên trước, can sau nhiều lời!
Tội không chết nhưng đời vẫn loạn
Ôm gối nằm đòi đoạn xót xa
Tháng ngày con én lại qua
Kiếp người thấm thoắt như là bóng câu
Con thuyền mảnh đến đâu hay đó
Dấu vua xưa, chúa cũ tìm chơi
Ba lần đất Sở im hơi
Chín phen lựu Thục nhạt phai lửa hồng
Hùm sói dữ! Rắn rồng ngang ngửa!
Nghiệp tan rồi! Danh nữa còn đâu!
Bơ phờ hạc múa trước lầu
Trên đàn khúc “quạ kêu sầu” buồn tênh
Mai đỉnh núi đành hanh gió đập
Trúc bờ sông tràn ngập nước lên
Vẫy đuôi cực nỗi ăn xin
Dạn dày phơi mặt chưa đền ơn sâu
Đem “thai vạ” chứa vào trong ruột
Giữ “chuôi dèm” dám buột ngoài môi
Làng thơ xưa thiếu chi người
Thương thân lưu lạc, khóc đời bơ vơ
Nào dám quản rượu thừa, cơm nguội
Miễn qua cơn bụng đói dạ sầu
Cười chê mặc họ lâu nhâu
Thằng nghèo có dám oán đâu ông trời
Hơn với kém rạch ròi thực khó
Sang với hèn bày rõ chẳng sai
Kìa xem quan tắt bao người
Phải rằng ai cũng có tài hơn ta
Chước hoà thân cho là hạ đẳng
Bậc trọng thần nói chẳng thiệt thân
Các quan đều bậc trung thần
Sao nhà vua phải phân vân bàng hoàng?
Nào những kẻ tượng vàng bia đá
Hãy gắng công phò tá hơn xưa
Cột rường chớ bỏ thờ ơ
Giáo gươm đem đúc cày bừa cho xong
Phong nên rộng, tướng dùng nên hẹp
Việc đừng phiền, lưới phép đừng mau
Tự nhiên rồng hiện, phượng chầu
Điềm lành ứng với đất giàu dân đông
Giúp đời kém tài ông họ Phó
Lánh đời đành như chú họ Nhan
Giang hồ những kẻ yên nhàn
Xưa nay thường để lòng tàn như tro


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống dịch, NXB Văn hoá - Thông tin, 1996
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Thẹn mình không có tài,
Xưa nhờ lòng thương hại.
Tuổi già mới được làm,
Tất tả áo quan đợi.
Ghìm ngựa, theo ngày chầu,
Rộng tha, khỏi bị tội
Gãy ván, ra khỏi đài,
Loạn lạc chặn cửa ải.
Sáng sớm chim đen bay,
Thân thế ngựa trắng sải.
Bệnh nặng càng thêm lo,
Thuyền con cứ qua lại.
Lửa Ba, chín lần dùi,
Sấm Sở, ba lượt lủi.
Vọng Đế truyện còn kia,
Chiêu Vương về chẳng hỏi.
Ngược ngang đàn cá ngao,
Gây gổ lũ hùm sói.
Cứ theo nghiệp mà làm,
Ra gì cái danh nổi.
Quạ đen kêu oán than,
Hạc đình múa lụi đụi.
Dòng Tương lấn trúc thu,
Gió lạnh tàn mai núi.
Long đong, miếng ăn tìm,
Chăm chắm, ơn lớn đội.
Uốn lưỡi phòng lỡ lời,
Xét lòng coi mầm tội.
Bộ Binh khóc lang thang,
Trọng-tuyên buồn trôi nổi.
Rượu khắp xứ giải sầu,
Gạo các nhà cứu đói.
Nghỉ, kẻ sĩ than nghèo,
Làm, người đời cứ chửi.
Rạch ròi biết sang, hèn,
Sơ khó định thành, bại.
Lần chần dứt áo đi,
Loạc choạc nơi bờ bụi.
Khuất, Tống đều biết tài,
Y, Chu không cùng lối.
Triều Hán hoà vùng ngoài,
Sử Tấn bỏ cầu nối.
Lập nghiệp là việc thường,
Quan tư sợ phạm lỗi.
Các ngài chăm góp công,
Nhà vua còn bối rối.
Vài kẻ chuông đỉnh ghi,
Sao sáng, gương nên dõi.
Gươm dáo nấu mong nghe,
Cột rường chớ bẻ gãy.
Đẽo đá ngọc chăm tìm,
Thăng tướng chớ bừa bãi.
Tạo luật không khắt khe,
Giao việc chớ thúc hối.
Rồng vàng há không về,
Chim công hẳn bay tới.
Làm, hết Phó nơi đồng.
Ẩn, theo Nhan đục lối.
Xưa nay kẻ long đong,
Lòng thường như tro nguội.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Vốn nhờ ở ơn sâu thời trước,
Thẹn vì chẳng dựa sức mà lên,
Tới già mới được làm quan,
Áo bào xúng xính vai chen đứng hầu.
Ngày ngày theo ngựa chầu bên điện,
Cho tới khi gãy ván mới rời.
Mắc tội, rộng tha chết rồi,
Cửa ải ngăn chặn, cái thời loạn li.
Mới sáng chim đen sì đã hiện,
Mà đời người vụt biến bóng câu.
Bệnh nặng càng thấy buồn rầu,
Thuyền con vất vưởng tới đâu là nhà.
Dùi chín lần xứ Ba mồi lửa,
Sấm Sở vang ba bữa chạy dài.
Truyện Thục Đế vẳng bên tai,
Chiêu Vương thắc mắc qui hồi hay không?
Đàn cá ngao ngược ngang gây rối,
Lại còn thêm hùm sói hoành hành.
Cái nghiệp thôi đã tan tành,
Còn ra gì nữa cái danh hão huyền.
Đàn quạ đen kêu than thảm thiết,
Hạc trong sân tíu tít múa may.
Trúc thu, nước sông Tương đầy,
Mai trên đỉnh núi gió vầy lạnh teo.
Long đong, bụng đói meo, kiếm miếng,
Trong lòng ghi giữ tiếng suốt đời.
Uốn lưỡi phòng khi lỡ lời,
Mầm tội trong bụng có chồi lên không.
Ngài Bộ binh lang thang khóc rống,
Chàng Trọng Tuyên lóng ngóng bi ai.
Cứu đói các nhà van nài,
Giải sầu rượu ở khắp nơi, tới kèo.
Không làm quan, than nghèo với túng,
Làm, người đời phỉ báng chua cay.
Lúc đầu được, mất, khó hay,
Sang, hèn dễ nhận thấy ngay từ đầu
Lầm lẫn trả áo bào, mũ mãng,
Loạc choạc đi nên vướng mù u.
Chẳng cần đất của Y, Chu,
Mà tài Khuất, Tống cũng đều bủa ra.
Triều đình Hán cầu hoà vùng ngược,
Sử nước Tấn thoát lược trung đài.
Nghiệp bá là chuyện lai rai,
Trung thần nên giữ kẻo tai nạn tròng.
Các quan đều cố công phục vụ,
Sao nhà vua lại cứ thấy phiền.
Vài kẻ chuông đỉnh ghi tên,
Đó là gương sáng leo lên hàng đầu.
Mong được nghe gươm đao nấu chảy,
Rường cột kia xin hãy tài bồi.
Tảng đá cố đẽo, ngọc trồi,
Việc quân lựa chọn đúng người mà trao.
Công việc nước đem giao, chớ nhặt,
Luật lệ đừng khe khắt phiền hà.
Phượng hoàng ắt sẽ hiện ra,
Rồng vàng bay bồng há mà giả ư?
Hiền, mơ chẳng cần như Phó ruộng,
Ẩn, đục sao mà giống Nhan tường.
Xưa nay thân kẻ long đong,
Hệt như tro nguội cõi lòng buồn tênh.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Thân phận trước người thương đề bạt
Ngẫm thẹn không tài thật của mình
Đến già chức mọn triều đình
Gian nguy mới được khom mình chầu vua
Dắt dây cương khi vua cưỡi ngựa
Can vua lời không lựa bị đày
Tội to nhưng sống còn đây
Giao thông tắc nghẽn vì dài bon chen
Thời gian như chim đen vụt thẳng
Thân thế như ngựa trắng phi qua
Ôm gối nằm, việc qua loa
Thuyền con một chiếc xuề xoà tới lui
Chín lần gần xứ Ba núi lửa
Sấm sét rền đất Sở ba lần
Truyện Vọng đế, ứng nghiệm chân
Chiêu vương mất xác đang cần lý ưng
Thuồng luồng, rồng không sừng ngang ngược
Sói, cọp làm loạn lạc vô hồi
Cơ đồ tay trắng mất rồi
Về phần danh hão ôi thôi còn gì
Đàn ai gảy quạ chi ai oán
Hạc bơ phờ múa loạn sân trong
Mưa thu ngập trúc bờ Tương
Lạnh lùng gió thổi mai vàng trên non
Khi vẫy đuôi xin ăn cực khổ
Thường mặt mo hứa hão báo ơn
Ba lần uốn lưỡi vẫn hơn
Xét xem trong bụng có hờn hại ai?
Nguyễn Bộ Binh giữa trời khóc lóc
Trọng Tuyên buồn lưu lạc cầu an
Nhà nhà hỏi gạo đói ăn
Lang thang mọi chỗ nhờ nâng chén sầu
Hết than thở nỗi đau kẻ sĩ
Mặc cho người khinh bỉ chê cười
Được hay mất, khó biết rồi
Nhưng sang hèn dễ nhận thôi có gì
Triều đình ban mũ y lầm lẫn
Cho các quan kém phẩm cỏ lai
Y, Chu chẳng sánh đất đai
Mà so Khuất, Tống cùng tài không ngoa
Triều đình Hán giảng hoà nước khác
Mở trung đài sử sách Tấn triều
Tầm thường bá nghiệp quan liêu
Trung thần sợ phạm các điều khi quân
Các quan thảy hợp quần tài sức
Mà sao vua vẫn cứ bồn chồn
Có vài kẻ được khắc chuông
Đúng là người giữ phép khuôn hàng đầu
Mong mỏi việc gươm, mâu nấu chảy
Nhưng đừng làm phương hại quốc gia
Ngọc khuê đá lớn đẽo ra
Việc quân cần tướng tài ba dắt dìu
Hãy buông cho cờ bay cung kính
Chúc mừng thay lồng lộng lưới trời
Vụt bay sẻ đỏ tới rồi
Rồng vàng há chỉ giả mai mối à?
Hiền đức mơ không tày ông Phó
Ẩn cư theo chất phác họ Nhan
Xưa nay các khách hồ giang
Tâm tư u tối ngang hàng lạnh tro.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời