31/10/2020 20:16Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thu nhật Kinh Nam thuật hoài tam thập vận
秋日荊南述懷三十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi hongha83 vào 14/02/2012 10:37

 

Nguyên tác

昔承推獎分,
愧匪挺生材。
遲暮宮臣忝,
艱危袞職陪。
揚鑣隨日馭,
折檻出雲臺。
罪戾寬猶活,
幹戈塞未開。
星霜玄鳥變,
身世白駒催。
伏枕因超忽,
扁舟任往來。
九鉆巴噀火,
三蟄楚祠雷。
望帝傳應實,
昭王問不回。
蛟螭深作橫,
豺虎亂雄猜。
素業行已矣,
浮名安在哉。
琴烏曲怨憤,
庭鶴舞摧頹。
秋雨漫湘水,
陰風過嶺梅。
苦搖求食尾,
常曝報恩腮。
結舌防讒柄,
探腸有禍胎。
蒼茫步兵哭,
展轉仲宣哀。
饑籍家家米,
愁征處處杯。
休為貧士嘆,
任受眾人咍。
得喪初難識,
榮枯劃易該。
差池分組冕,
合沓起蒿萊。
不必伊周地,
皆知屈宋才。
漢庭和異域,
晉史坼中臺。
霸業尋常體,
忠臣忌諱災。
群公紛戮力,
聖慮窅裴回。
數見銘鐘鼎,
真宜法鬥魁。
願聞鋒鏑鑄,
莫使棟梁摧。
盤石圭多翦,
兇門轂少推。
垂旒資穆穆,
祝網但恢恢。
赤雀翻然至,
黃龍詎假媒。
賢非夢傅野,
隱類鑿顏坯。
自古江湖客,
冥心若死灰。

Phiên âm

Tích thừa thôi tưởng phân[1],
Quý phỉ đĩnh sinh tài.
Trì mộ cung thần thiểm,
Gian nguy cổn chức bồi.
Dương tiêu tuỳ nhật ngự,
Chiết hạm[2] xuất Vân Đài.
Tội lệ khoan do hoạt,
Can qua tắc vị khai.
Tinh sương huyền điểu biến,
Thân thế bạch câu thôi.
Mật chẩm nhân siêu hốt,
Thiên chu nhậm vãng lai.
Cửu toàn ba tốn hoả,
Tam chập Sở từ lôi.
Vọng Đế[3] truyền ứng thật,
Chiêu Vương[4] vấn bất hồi.
Giao ly Thẩm tác hoành,
Sài hổ loạn hùng sai.
Tố nghiệp hành dĩ hĩ,
Phù danh an tại tai.
Cầm ô khúc oán phẫn,
Đình hạc vũ tồi đồi.
Thu vũ mạn tương thuỷ,
Âm phong quá lĩnh mai.
Khổ diêu cầu thực vĩ,
Thường bộc báo ân tai.
Kết thiệt phòng sàm bính,
Tham tràng hữu hoạ thai.
Thương mang bộ binh[5] khốc,
Triển chuyển Trọng Tuyên ai.
Cơ tịch gia gia mễ,
Sầu chinh xứ xứ bôi.
Hưu vi bần sĩ thán,
Nhậm thụ chúng nhân?
Đắc táng sơ nan thức,
Vinh khô hoạch dịch cai.
Sai trì phân tổ miện,
Hiệp đạp khởi hao lai.
Bất tất Y Chu[6] địa,
Giai tri Khuất Tống[7] tài.
Hán đình hoà dị vực,
Tấn sử sách trung đài.
Phách nghiệp tầm thường thể,
Trung thần kị huý tai.
Quần công phân lục lực,
Thánh lự yểu bùi hồ.
Số kiến minh chung đỉnh,
Chân nghi pháp đấu khôi.
Nguyện văn phong đích chú,
Mạc sử đống lương tồi.
Bàn thạch khuê đa tiễn,
Hung môn cốc thiểu thôi.
Thuỳ lưu tư mục mục,
Chúc võng đãn khôi khôi.
Xích tước phiên nhiên chí,
Hoàng long cự giả môi.
Hiền phi mộng Phó[8] dã,
Ẩn loại tạc Nhan[9] bôi.
Tự cổ giang hồ khách,
Minh tâm nhược tử hôi.

Dịch nghĩa

Xưa nhờ cái may có người ái mộ rồi đề cử,
Thẹn không phải là do tài của mình.
Gần già mới có chức quan trong cung,
Tất tả mặc cái áo chầu đứng hầu.
Ngày vua ngự thì ghìm cương ngựa,
Gãy ván mới ra khỏi đài mây.
Mắc lỗi nhưng nhờ vua khoan dung nên còn được sống,
Chiến tranh nên biên ải chưa thông.
Vào buổi sáng sớm, chim đen đã biến mất,
Thân thế như bóng ngựa trắng vượt qua.
Bị bệnh ôm gối nên vì thế hốt hoảng,
Con thuyền nhỏ cứ thế qua lại.
Chín lần dùi lửa phun nơi đất Ba,
Ba lượt trốn tiếng sét tại vùng Sở.
Chuyện vua Vọng Đế như có thật,
Nghi vấn về Chiêu Vương đi không về.
Bọn thuồng luồng gây rắc rối nơi hang sâu,
Lũ hổ gấu gây sáo trộn.
Cái nghiệp đành tan như thế đó,
Cái danh ôi có còn chi đâu.
Chim quạ kêu mà thêm tức giận,
Hạc trong sân múa trông buồn thiu.
Nước thu lấn trúc nơi sông Tương,
Gió lạnh thổi qua mai trên núi.
Vẫn long đong khó nhọc kiếm chút ăn,
Nhưng vẫn nhằm báo ơn lớn.
Uốn lưỡi đề phòng gậy châm chọc,
Coi xét trong bụng xem có âm mưu gì không.
Trong quãng mênh mông, quan bộ binh khóc lóc,
Đi lang thang nên ông Trọng Tuyên rầu.
Đói trông vào gạo các nhà,
Sầu bày ra chén rượu khắp nơi.
Nghỉ thì than cảnh kẻ sĩ nghèo,
Nhận chức thì người đời dè bỉu.
Thành công hay thất bại lúc đầu khó mà biết được,
Sang hay hèn phân tách ra mới dễ thấy hết.
Sai lầm mà dứt cảnh mũ áo,
Loạc choạc bước vào chốn bụi gai.
Chẳng phải là đất của Y Doãn và Chu Công,
Đều đạt được cái tài của Khuất Nguyên và Tống Ngọc.
Triều đình nhà Hán cầu hoà với vùng man di,
Sử nhà Tấn mở ra đài ở giữa.
Sự nghiệp để phù trợ là điều bình thường,
Các quan mắc vạ kiêng cấm.
Các ông rối rít chung sức lại,
Nhà vua vẫn còn lo âu.
Thấy có vài người được ghi nơi chuông với đỉnh,
Thật nên xứng bắt chước ngôi sao sáng.
Mong nghe đến việc nấu chảy gươm giáo,
Đừng có bẻ gãy những cột rường.
Đá tảng lớn, đẽo gọt ra nhiều ngọc khuê,
Cửa gặp nạn chớ có tăng chức bừa bãi cho họ.
Giao cờ công việc chớ có thúc bách,
Đặt luật lệ chớ có khe khắt.
Chim công thảnh thơi tới,
Rồng vàng há chẳng hiện sao?
Kẻ hiền không mơ ước được như ông Phó nơi đồng ruộng,
Về ẩn không ra làm quan thì giống ông Nhan Hạp đục tường sau nhà.
Từ xưa đến nay kẻ nay đây mai đó,
Thường thường mang một tấm lòng như tro nguội.

Bản dịch của Nhượng Tống

Danh được hão! Thực tài đâu có!
Đầu bạc đeo trâm mũ quan hầu
Xe trời gió chực, bụi chầu!
Đài Mây khuyên trước, can sau nhiều lời!
Tội không chết nhưng đời vẫn loạn
Ôm gối nằm đòi đoạn xót xa
Tháng ngày con én lại qua
Kiếp người thấm thoắt như là bóng câu
Con thuyền mảnh đến đâu hay đó
Dấu vua xưa, chúa cũ tìm chơi
Ba lần đất Sở im hơi
Chín phen lựu Thục nhạt phai lửa hồng
Hùm sói dữ! Rắn rồng ngang ngửa!
Nghiệp tan rồi! Danh nữa còn đâu!
Bơ phờ hạc múa trước lầu
Trên đàn khúc “quạ kêu sầu” buồn tênh
Mai đỉnh núi đành hanh gió đập
Trúc bờ sông tràn ngập nước lên
Vẫy đuôi cực nỗi ăn xin
Dạn dày phơi mặt chưa đền ơn sâu
Đem “thai vạ” chứa vào trong ruột
Giữ “chuôi dèm” dám buột ngoài môi
Làng thơ xưa thiếu chi người
Thương thân lưu lạc, khóc đời bơ vơ
Nào dám quản rượu thừa, cơm nguội
Miễn qua cơn bụng đói dạ sầu
Cười chê mặc họ lâu nhâu
Thằng nghèo có dám oán đâu ông trời
Hơn với kém rạch ròi thực khó
Sang với hèn bày rõ chẳng sai
Kìa xem quan tắt bao người
Phải rằng ai cũng có tài hơn ta
Chước hoà thân cho là hạ đẳng
Bậc trọng thần nói chẳng thiệt thân
Các quan đều bậc trung thần
Sao nhà vua phải phân vân bàng hoàng?
Nào những kẻ tượng vàng bia đá
Hãy gắng công phò tá hơn xưa
Cột rường chớ bỏ thờ ơ
Giáo gươm đem đúc cày bừa cho xong
Phong nên rộng, tướng dùng nên hẹp
Việc đừng phiền, lưới phép đừng mau
Tự nhiên rồng hiện, phượng chầu
Điềm lành ứng với đất giàu dân đông
Giúp đời kém tài ông họ Phó
Lánh đời đành như chú họ Nhan
Giang hồ những kẻ yên nhàn
Xưa nay thường để lòng tàn như tro
(Năm 768)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống dịch, NXB Văn hoá - Thông tin, 1996
[1] Hồi ở Trường An, Đỗ Phủ được Vi Tế, giữ chức tả thừa, giới thiệu với đám quan trường.
[2] Chỉ việc thất bại trong việc nói thẳng để can gián vua.
[3] Vua Thục.
[4] Con Chu Khang Vương, đi thuyền tới dòng Hán thuỷ thì chết.
[5] Chỉ Nguyễn Tịch 阮籍.
[6] Y Doãn, một người có công giúp xây dựng nhà Thương, và Chu Công, một người có công giúp nhà Chu lập nghiệp.
[7] Khuất Nguyên và Tống Ngọc thời Xuân Thu.
[8] Phó Duyệt 傅說, một bề tôi tốt của vua Cao Tông đời Ân.
[9] Nhan Hạp 顏闔.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thu nhật Kinh Nam thuật hoài tam thập vận