Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 10/05/2015 18:22, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 28/04/2024 15:08

水宿遣興奉呈群公

魯鈍乃多病,
逢迎遠復迷。
耳聾須畫字,
髮短不勝篦。
澤國雖勤雨,
炎天竟淺泥。
小江還積浪,
弱纜且長堤。
歸路非關北,
行舟卻向西。
暮年漂泊恨,
今夕亂離啼。
童稚頻書劄,
盤餐詎糝藜。
我行何到此,
物理直難齊。
高枕翻星月,
嚴城疊鼓鼙。
風號聞虎豹,
水宿伴鳧鷖。
異縣驚虛往,
同人惜解攜。
蹉跎長泛鷁,
輾轉屢鳴雞。
嶷嶷瑚璉器,
陰陰桃李蹊。
餘波期救涸,
費日苦輕齎。
支策門闌邃,
肩輿羽翮低。
自傷甘賤役,
誰湣強幽棲。
巨海能無釣,
浮雲亦有梯。
勳庸思樹立,
語默可端倪。
贈粟囷應指,
登橋柱必題。
丹心老未折,
時訪武陵溪。

 

Thuỷ túc khiển hứng phụng trình quần công

Lỗ độn nãi đa bệnh,
Phùng nghinh viễn phục mê.
Nhĩ lung tu hoạ tự,
Phát đoản bất thắng bề.
Trạch quốc tuy cần vũ,
Viêm thiên cánh thiển nê.
Tiểu giang hoàn tích lãng,
Nhược lãm thả trường đề.
Qui lộ phi quan bắc,
Hành chu khước hướng tê.
Mộ niên phiêu bạc hận,
Kim tịch loạn ly đề.
Đồng trĩ tần thư tráp,
Bàn xan cự tảm lê.
Ngã hành hà đáo thử,
Vật lý trực nan tề.
Cao chẩm phiên tinh nguyệt,
Nghiêm thành điệp cổ bề.
Phong hào văn hổ báo,
Thuỷ túc bạn phù ê.
Dị huyện kinh hư vãng,
Đồng nhân tích giải huề.
Tha đà trường phiếm nghịch,
Triển chuyển lũ minh kê.
Nghi nghi hồ liễn khí,
Âm âm đào lý hề.
Dư ba kỳ cứu hạc,
Phí nhật khổ khinh tê.
Chi sách môn lan thuý,
Kiên dư vũ cách đê.
Tự thương cam tiện dịch,
Thuỳ mẫn cưỡng u thê.
Cự hải năng vô điếu,
Phù vân diệc hữu thê.
Huân dung tư thụ lập,
Ngữ mặc khả đoan nghê.
Tặng túc khuân ưng chỉ,
Đăng kiều trụ tất đề.
Đan tâm lão vị chiết,
Thì phỏng Vũ Lăng khê.

 

Dịch nghĩa

Đã ngố lại lắm bệnh,
Thêm không quen lại cũng chẳng rành việc đón rước.
Tai điếc nên vẽ chữ mà chuyện trò,
Tóc ngắn chải không quá cái lược.
Vùng đất thấp này tuy có nhiều mưa,
Nhưng trời nồm nên bùn cạn lắm.
Sông con chỉ chứa sóng trong lòng,
Dây neo thuyền buông thòng theo đê dài.
Đường đi về không đúng như hướng bắc như ý muốn,
Thuyền trôi cưỡng lại không theo hướng tây.
Những năm cuối đời buồn bực vì cảnh trôi nổi,
Như đêm nay lại khóc than vì cảnh loạn ly.
Đàn trẻ cứ lục lọi cái rương đựng sách hoài,
Trên mâm cơm thì chỉ có rau với cháo.
Đời ta sao lại đến như thế,
Cái lẽ sự vật thậ khó mà phanh phui cho ra.
Nằm gối cao thấy trăng sao lất phất,
Nơi thành quân canh phòng cẩn mật, tiếng chiêng trống đổ hồi.
Qua gió nghe có tiếng hổ báo gầm gừ,
Ở trên mặt nước làm bạn với lũ le, bày cò.
Nơi huyện lạ sợ không dám lần mò tới,
Lại tiếc phải phải buông tay áo với người cùng đi thuyền.
Quẩn quanh mãi cứ như con mòng,
Chui lủi hệt như con cuốc.
Các quan trong huyện ngạo nghễ là tài cao,
Phận tôi lom khom là lối mận, đào.
Sóng thừa chờ ngày cứu hạn,
Ngày tháng bỏ hoài khổ cứ vun vút kế tiếp nhau qua đi.
Cứ chống gậy thì cửa ngõ cao sâu quá,
Mà đưa vai khiêng xe thì cánh đã rã rời rồi.
Tự thấy thương hại mình là chịu bó buộc với cái thấp hèn,
Ai thương cho kẻ bị buộc phải sống nơi tăm tối.
Biển lớn có thể là không câu được,
Nhưng mây bồng bềnh kia lại có thang lên.
Công lao bị lơ là thì nảy sinh thắc mắc,
Im lời có thể đoán được ý.
Cho thóc muốn chỉ trong kho,
Bước lên cầu tất đề lên cột.
Lão này chưa dứt lòng son,
Có khi còn tới thăm khe nơi Vũ Lăng nữa.


(Năm 768)

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Đã bệnh lại lù đù,
Đón tiếp, xa lạc lối.
Vẽ chữ vì ù tai,
Tóc ngắn chẳng đủ búi.
Vùng nước tuy mưa nhiều,
Bùn mỏng trời nóng chói.
Nơi sông con, sóng ngưng,
Cạnh đê dài, neo thả.
Phía bắc đường kẹt về,
Hướng tây thuyền dừng lại.
Tối nay khóc loạn ly,
Năm trước buồn trôi nổi.
Sách vở con phá hoài,
Bữa ăn cứ rau mãi.
Đời tôi sao đến đây,
Việc đời thật khó nói.
Gối cao, trăng sao nhào,
Thành nghiêm, trống chiêng ỏi.
Qua gió, hổ báo nghe,
Ở nước, cò vạc tới.
Huyện lạ thăm còn e,
Người quen chia tay ngại.
Cái nghích mãi lênh đênh,
Con gà cứ lụi đụi.
Lối mận đào tù mù,
Đồ cúng tế chói lọi.
Cứu hạn, chờ sóng thừa,
Uổng ngày, khổ cứ nối.
Chống gậy, cửa ngõ sâu,
Kề vai, cánh đà mỏi.
Chịu ràng buộc, mình thương,
Phải sống ẩn, ai đoái.
Không cần câu biển xa,
Có thang leo mây nổi.
Thắc mắc sinh, công lơ,
Ý đoán được, chẳng nói.
Phải đề cột, cầu qua,
Muốn chỉ kho, thóc hỏi.
Lão chưa dứt lòng son,
Thăm Vũ Lăng còn đợi.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Đã lù khù lại còn lắm chứng,
Đón tiếp người xa vắng đường đi.
Vẽ chữ để thay tai nghe,
Tóc ngắn lược chải chẳng te chút nào.
Nơi vùng thấp mưa rào có đấy,
Xứ nóng nồm ít thấy bãi bùn.
Sông con sóng chẳng dâng tràn,
Dây thuyền cứ bỏ tràn lan đê dài.
Đường về chẳng đúng nơi phương bắc,
Thuyền xuôi lại trái ngược hướng tây.
Tuổi già buồn tới đó đây,
Gặp thời ly loạn hôm nay khóc dài.
Con nhỏ cứ luôn chơi sách vở,
Bữa ăn sao chỉ có cháo rau.
Thân ta đến thế này sao,
Việc đời thật khó biết đâu mà lường.
Gối cao thấy sao, trăng phơ phất,
Trong thành nghiêm rậm rật trống chiêng.
Qua gió thoáng tiếng hổ vang,
Sống trên mặt nước bạn cùng cò, le.
Nơi huyện lạ e dè chẳng tới,
Bao người quen lại ngại chia tay.
Lang bang như vịt cùng bầy,
Lại khi len lách cuốc gầy giống sao.
Rực rỡ đồ trưng cao đáng quý,
Âm u thay lối lý đường đào.
Sóng rớt chờ cứu hạn mau,
Cứ ôm ngày phí mà đau tấc lòng.
Chống gậy cố chờ trong cửa hẹp,
Ghé vai thì cánh xẹp mất rồi.
Thấy tủi: chịu cảnh phận ôi,
Buộc sống đen tối, có người nào thương.
Biển rộng lớn không vung câu được,
Mây cao vời thang bắc tới nơi.
Công lơ, nên mới thốt lời,
Tuy rằng không nói, ý thời rõ ngay.
Cho thóc, kho đưa tay muốn chỉ,
Bước qua cầu, trên bệ đề nơi.
Lòng son già vẫn chưa vơi,
Khe Vũ Lăng sẽ có thời tới thăm

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời