Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 03/03/2014 21:33

送王十五判官扶侍還黔中,得開字

大家東征逐子回,
風生洲渚錦帆開。
青青竹筍迎船出,
日日江魚入饌來。
離別不堪無限意,
艱危深仗濟時才。
黔陽信使應稀少,
莫怪頻頻勸酒杯。

 

Tống Vương thập ngũ phán quan phù thị hoàn Kiềm Trung, đắc khai tự

Đại gia đông chinh trục tử hồi,
Phong sinh châu chử cẩm phàm khai.
Thanh thanh trúc duẩn nghinh thuyền xuất,
Nhật nhật giang ngư nhập soạn lai.
Ly biệt bất kham vô hạn ý,
Gian nguy thâm trượng tế thì tài.
Kiềm Dương tín sứ ưng hy thiểu,
Mạc quái tần tần khuyến tửu bôi.

 

Dịch nghĩa

Cả nhà đi về phía đông kéo theo đứa con theo,
Bến sông gió thổi buồm gấm giương ra.
Xanh xanh ngọn tre đón con thuyền ra đi,
Ngày ngày có cá sông làm bữa ăn.
Chia tay không thể ngăn biết bao suy nghĩ,
Tài giúp đời đã từng trải bao gian nguy.
Người đưa tin từ Kiềm dương chắc là ít,
Chớ lấy làm lạ là cứ nghiêng chén đều đều.


(Năm 764)

Kiềm Trung thuộc nước Sở thời Chiến Quốc, nay là tỉnh Quý Châu.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Bà cố theo con xuống cõi đông
Mở căng buồm gấm gió trên sông
Măng đầu thuyền đón xanh xanh ngắt
Cá bữa ăn thường trắng trắng bông
Cách mặt xiết bao tình mến tiếc
Giúp đời riêng để ý trông mong
Chén son rót mãi xin đừng lạ
Tin tức Kiềm Dương chắc khó thông


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Sang đông già cả kéo con theo,
Gió nổi bên sông buồm thẳng lèo.
Xanh xanh măng trúc đưa thuyền khỏi,
Buổi buổi cá sông dọn bữa đều.
Ý ngổn ngang sao giờ ly biệt,
Tài giúp đời qua lúc hiểm nghèo.
Kiềm dương thư tín thường đưa ít,
Chớ lạ ly men tới tấp kèo.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời