Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Từ khoá: mưa (136)
Đăng bởi Vanachi vào 08/03/2014 15:17, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 25/02/2015 11:52

雨(山雨不作泥)

山雨不作泥,
江雲薄為霧。
晴飛半嶺鶴,
風亂平沙樹。
明滅洲景微,
隱見岩姿露。
拘悶出門遊,
曠絕經目趣。
消中日伏枕,
臥久塵及屨。
豈無平肩輿,
莫辨望鄉路。
兵戈浩未息,
蛇虺反相顧。
悠悠邊月破,
鬱鬱流年度。
針灸阻朋曹,
糠籺對童孺。
一命須屈色,
新知漸成故。
窮荒益自卑,
飄泊欲誰訴。
尪羸愁應接,
俄頃恐違迕。
浮俗何萬端,
幽人有獨步。
龐公竟獨往,
尚子終罕遇。
宿留洞庭秋,
天寒瀟湘素。
杖策可入舟,
送此齒發暮。

 

Vũ (Sơn vũ bất tác nê)

Sơn vũ bất tác nê,
Giang vân bạc vi vụ.
Tình phi bán lĩnh hạc,
Phong loạn bình sa thụ.
Minh diệt châu cảnh vi,
Ẩn kiến nham tư lộ.
Câu muộn xuất môn du,
Khoáng tuyệt kinh mục thú.
Tiêu trung nhật phục chẩm,
Ngoạ cửu trần cập lũ.
Khởi vô bình khiên dư,
Mạc biện vọng hương lộ.
Binh qua hạo vị tức,
Xà huỷ phản tương cố.
Du du biên nguyệt phá,
Uất uất lưu niên độ.
Châm cứu trở bằng tào,
Khang hiệt đối đồng nhụ.
Nhất mệnh tu quật sắc,
Tân tri tiệm thành cố.
Cùng hoang ích tự ty,
Phiêu bạc dục thuỳ tố.
Uông luy sầu ưng tiếp,
Nga khoảnh khủng vi ngỗ.
Phù tục hà vạn đoan,
U nhân hữu độc bộ.
Bàng công cánh độc vãng,
Thượng tử chung hãn ngộ.
Túc lưu Động Đình thu,
Thiên hàn Tiêu Tương tố.
Trượng sách khả nhập chu,
Tống thử xỉ phát mộ.

 

Dịch nghĩa

Mưa trong núi không tạo ra sình lầy,
Mây trên sông mỏng thành như khói.
Hạc núi bay trong khi tạnh,
Gió tung cây trên bãi cát.
Cảnh bến nhỏ khi tỏ khi mờ,
Lúc ẩn lúc hiện sương vách núi.
Ôm mối sầu mở cửa ra chơi,
Sắc rộng rãi làm thoáng con mắt.
Bị thổ tả nằm cả ngày rồi,
Nằm mãi đến mỗi dép đóng bụi.
Há vì không có xe lớn,
Nên không bàn đến việc trông đường về quê.
Chiến tranh còn chưa dứt,
Thuồng luồng vẫn dãy dụa.
Dằng dặc trăng ải tan,
Gấp gấp qua năm tháng.
Mắc trị bệnh nên ngăn cản giao tiếp với bè bạn,
Lo đói cho bầy con nhỏ.
Một lời cũng gắng nín thinh,
Mới quen đấy mà thành ra cũ.
Nơi hoang cùng nên tự hạ mình,
Lênh đênh biết ngỏ cùng ai.
Hèn kém nên buồn khi tiếp đãi,
Hời hợt lại sợ lỗi giao tình.
Thói đời sao có vạn cách,
Người ẩn chỉ có một đường.
Ông Bàng trọn một cách,
Cụ Thượng cuối cùng gặp may ít có.
Mùa thu này nán ở lại Động Đình,
Tiêu Tương trời vẫn lạnh như thế.
Chống gậy có thể xuống thuyền,
Răng tóc đây là chuyến cuối.


(Năm 767)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Núi mưa mặt đất không bùn
Mây hồng tan hoá thành luôn sương mù
Hạc ngàn mạn tạnh bay đua
Gió ngoài bãi cát thổi lùa rặng cây
Nhấp nhô vẻ núi đổi thay
Tỏ mờ cảnh bến đấy đây khó nhìn
Ốm nằm trong dạ buồn phiền
Mắt quanh riềm gối, bụi lên đế giày
Đường về quê cũ xa thay
Loạn ly rắn rết quấy rầy mãi nhau
Tháng ngày cơ cực bấy lâu
Vợ con đói rét, bạn bầu xa khơi
Quan quèn cũng phải tới lui
Bao người lạ trước hoá người quen nay
Nén lòng nhũn nhặn cho hay
Long đong, lọm cọm khổ này kêu ai?
Trăm khoanh đen bạc thói đời
Không thù ứng, phật ý người biết sao
Suối rừng giữ được giá cao
Ông Bàng, ông Thượng có đâu như mình
Đợi ta phong cảnh hữu tình
Tiêu Tương trời tạnh, Động Đình hồ thu
Bao giờ chống gậy xuống đò?
Răng long, đầu bạc hẹn hò trăm năm


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Mưa núi không tạo bùn,
Mây sông mỏng thành khói.
Giữa núi tạnh hạc bay,
Cây bãi cát gió thổi.
Chập chờn cảnh bãi mờ,
Ẩn hiện màu sương núi.
Dứt buồn, mở cửa chơi,
Cảnh rộng mắt thấy khoái.
Tháo dạ ngủ cả ngày,
Nằm lâu dép đầy bụi.
Xe lớn không có sao,
Ngóng quê chớ tìm lối.
Giặc giã nào đã yên,
Rắn rết còn quấy mãi.
Dằng dặc trăng ải tàn,
Rầu rầu năm tháng tới.
Trị bệnh xa bạn bè,
Tấm cám con nhỏ đói.
Một lệnh nên giữ gìn,
Thành cũ tuy quen mới.
Nhún nhường nơi hoang cùng,
Hẩm hiu cùng ai nói.
Hời hợt sợ chê bai
Hèn kém buồn tiếp nối.
Rắc rối là thói đời,
Người ẩn không thay đổi.
Cụ Thượng rồi cũng may,
Ông Bàng chỉ một cõi.
Rét Động đình trời gây,
Thu Tiêu Tương tạm gửi.
Chống gậy bước xuống thuyền,
Răng tóc đây lần cuối.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời