Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 18/04/2015 15:05

西閣三度期大昌嚴明府同宿不到

問子能來宿,
今疑索故要。
匣琴虛夜夜,
手板自朝朝。
金吼霜鐘徹,
花催臘炬銷。
早鳧江檻底,
雙影漫飄颻。

 

Tây các tam độ kỳ Đại Xương Nghiêm minh phủ đồng túc bất đáo

Vấn tử năng lai túc,
Kim nghi sách cố yêu.
Hạp cầm hư dạ dạ,
Thủ bản tự triêu triêu.
Kim hống sương chung triệt,
Hoa thôi lạp cự tiêu.
Tảo cưu giang hạm để,
Song ảnh mạn phiêu diêu.

 

Dịch nghĩa

Hỏi ông có thể tới ở được không,
Nay nghi ngờ về việc đòi hỏi đó.
Hộp đàn cứ đêm đêm bỏ trống,
Bài thơ chép tay cứ ngày ngày đợi.
Giọng vàng của tiếng chuông lúc còn sương nghe rõ,
Hoa đèn thúc cho cây nến tiêu tan.
Bầy le ban mai chui dưới gầm thuyền,
Hai bóng trông lấp loáng bồng bềnh.


(Năm 766)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Hỏi ông liệu tới ở,
Lời mời xưa nay lơ.
Đêm đêm hộp đàn trống,
Sáng sáng bản chép chờ.
Vàng rung chuông sớm rõ,
Hoa dục đuốc nến mờ.
Thuyền sông le sớm lặn,
Hai bóng cứ dập dờ.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Hỏi ông nghỉ đêm được chăng tá
Nay ngờ rằng việc đó không rồi
Hộp đàn mở trống không chơi
Thơ tay sáng sáng viết rồi để trơ
Tiếng chuông vàng tinh mơ nghe rõ
Hoa đèn tàn thúc rỏ nến hồng
Chim tu hú dưới hiên sông
Phất phơ đôi bóng song song bồng bềnh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời