Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi tôn tiền tử vào 18/04/2015 22:06

自瀼西荊扉且移居東屯茅屋其二

東屯複瀼西,
一種住青溪。
來往皆茅屋,
淹留為稻畦。
市喧宜近利,
林僻此無蹊。
若訪衰翁語,
須令剩客迷。

 

Tự Nhương Tây kinh phì thả di cư Đông Đồn mao ốc kỳ 2

Đông Đồn phục Nhương Tây,
Nhất chủng trụ thanh khê.
Lai vãng giai mao ốc,
Yêm lưu vị đạo khuê.
Thị huyên nghi cận lợi,
Lâm tích thử vô hề.
Nhược phỏng tang ông ngữ,
Tu linh thặng khách mê.

 

Dịch nghĩa

Đông Đồn với Nhương Tây,
Lại cùng ở khe hang một loại như nhau.
Tới lui rồi cũng chỉ nhà lá,
Sống bám với nương lúa.
Chợ đông ở gần thì lợi,
Rừng nhỏ không có lối đi tắt.
Nếu muốn tìm ông buồn khổ đó để nói chuyện,
Thì chỉ làm cho ông ta u mê thêm.


(Năm 767)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Đông Đồn lại Nhương Tê,
Suối trong náu một bề.
Đi về đều mái cỏ,
Sống nhờ có ruộng kê.
Chợ gần ồn có lợi,
Rừng khuất ít lối đi.
Muốn tìm ông thăm hỏi,
Càng khiến lão u mê.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Nhương Tây với Đông Đồn đại loại
Cũng đều là khe núi mà thôi
Tới lui nhà lá hẹp hòi
Vật vờ sống bám lúa khoai qua ngày
Chợ đông ở gần ngay thì lợi
Rừng thưa thì không lối chân đi
Già suy tìm gặp một khi
Chỉ làm cho khách si mê thêm à.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời