2594.23
Nước: Trung Quốc (Thịnh Đường)
331 bài thơ
3 bình luận
113 người thích
Tạo ngày 31/05/2004 20:27 bởi Vanachi, đã sửa 11 lần, lần cuối ngày 10/04/2007 19:09 bởi Vanachi
Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vo…

 

  1. Anh Vũ châu
    23
  2. Bá Lăng hành tống biệt
    6
  3. Ba nữ từ
    6
  4. Bả tửu vấn nguyệt
    15
  5. Bạch đầu ngâm
    6
  6. Bạch lộ tư
    10
  7. Bạch vân ca tống Lưu thập lục quy sơn
    4
  8. Bạch vi thì mộ huyện tiểu lại nhập lệnh ngoạ nội, thường khu ngưu kinh đường hạ lệnh thê nộ tương gia cật trách, Bạch cức dĩ thi tạ vân
    6
  9. Bắc phong hành
    3
  10. Bi ca hành
    1
  11. Biệt Đông Lâm tự tăng
    6
  12. Biệt nội phó trưng kỳ 1
    8
  13. Biệt nội phó trưng kỳ 2
    9
  14. Biệt nội phó trưng kỳ 3
    7
  15. Bình lỗ tướng quân thê
    5
  16. Bồ tát man
    7
  17. Bồi thị lang thúc du Động Đình tuý hậu kỳ 3
    3
  18. Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình kỳ 1
    7
  19. Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình kỳ 2
    5
  20. Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình kỳ 3
    5
  21. Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình kỳ 4
    15
  22. Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình kỳ 5
    5
  23. Chiến thành nam
    3
  24. Chiết hà hữu tặng
    3
  25. Cổ lãng nguyệt hành
    4
  26. Cổ phong kỳ 02 (Thiềm thừ bạc Thái Thanh)
    1
  27. Cổ phong kỳ 03 (Tần hoàng tảo lục hợp)
    2
  28. Cổ phong kỳ 08 (Thiên tân tam nguyệt thì)
    1
  29. Cổ phong kỳ 10 (Tề hữu thích thảng sinh)
    1
  30. Cổ phong kỳ 11 (Hoàng Hà tẩu đông minh)
    1
  31. Cổ phong kỳ 15 (Yên Chiêu diên Quách Ngỗi)
    3
  32. Cổ phong kỳ 18 (Cô lan sinh u viên)
    6
  33. Cổ phong kỳ 19 (Tây nhạc Liên Hoa sơn)
    2
  34. Cổ phong kỳ 23 (Thu lộ bạch như ngọc)
    1
  35. Cổ phong kỳ 24 (Đại xa dương phi trần)
    3
  36. Cổ phong kỳ 26 (Bích hà sinh u tuyền)
    4
  37. Cổ phong kỳ 31 (Trịnh Khách tây nhập quan)
    1
  38. Cổ phong kỳ 34 (Vũ hịch như lưu tinh)
    2
  39. Cổ phong kỳ 39 (Đăng cao vọng tứ hải)
    4
  40. Cổ phong kỳ 47 (Đào hoa khai đông viên)
    2
  41. Cổ ý
    6
  42. Cung trung hành lạc kỳ 1
    6
  43. Cung trung hành lạc kỳ 2
    6
  44. Cung trung hành lạc kỳ 3
    4
  45. Cung trung hành lạc kỳ 4
    4
  46. Cung trung hành lạc kỳ 5
    6
  47. Cung trung hành lạc kỳ 6
    4
  48. Cung trung hành lạc kỳ 7
    5
  49. Cung trung hành lạc kỳ 8
    5
  50. Cửu biệt ly
    13
  51. Cửu nguyệt thập nhật tức sự
    4
  52. Cửu nhật Long sơn ẩm
    4
  53. Dạ bạc Ngưu Chử hoài cổ
    14
  54. Dạ há Chinh Lỗ đình
    3
  55. Dạ túc sơn tự
    12
  56. Du Thái sơn kỳ 1
    3
  57. Du Thái sơn kỳ 3
    4
  58. Dữ Nguyên Đan Khâu Phương Thành tự đàm huyền tác
    1
  59. Dữ Sử lang trung khâm thính Hoàng Hạc lâu thượng xuy địch
    23
  60. Dương bạn nhi
    4
  61. Đại tặng viễn
    4
  62. Đảo y thiên
    6
  63. Đáp Hồ Châu Ca Diệp tư mã vấn Bạch thị hà nhân
    7
  64. Đáp Vương thập nhị hàn dạ độc chước hữu hoài
    2
  65. Đăng cao khâu nhi vọng viễn hải
    3
  66. Đăng Hoàng sơn Lăng Hiêu đài tống tộc đệ Lật Dương uý Tế sung phiếm chu phó Hoa Âm
    4
  67. Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng đài
    22
  68. Đăng Tân Bình lâu
    6
  69. Đăng Thái Bạch phong
    3
  70. Đề Đông Khê công u cư
    12
  71. Đề Hứa Nghi Bình Am bích
    6
  72. Đề Uyển khê quán
    3
  73. Đinh đô hộ ca
    6
  74. Đoản ca hành
    2
  75. Độ Kinh Môn tống biệt
    8
  76. Đỗ Lăng tuyệt cú
    13
  77. Độc bất kiến
    7
  78. Độc lộc thiên
    2
  79. Độc toạ Kính Đình sơn
    21
  80. Đối tuyết tuý hậu tặng Vương Lịch Dương
    4
  81. Đối tửu
    2
  82. Đối tửu kỳ 2
    10
  83. Đối tửu ức Hạ Giám kỳ 1
    6
  84. Đối tửu ức Hạ Giám kỳ 2
    5
  85. Đông Lỗ môn phiếm chu kỳ 1
    4
  86. Đồng Vương Xương Linh tống tộc đệ Tương quy Quế Dương (Đồng Vương Xương Linh, Thôi Quốc Phụ tống Lý Chu quy Sâm Châu) kỳ 1
    3
  87. Đồng Vương Xương Linh tống tộc đệ Tương quy Quế Dương (Đồng Vương Xương Linh, Thôi Quốc Phụ tống Lý Chu quy Sâm Châu) kỳ 2
    1
  88. Đương Đồ Triệu Viêm thiếu phủ phấn đồ sơn thuỷ ca
    2
  89. Giang Hạ biệt Tống Chi Đễ
    6
  90. Giang Hạ hành
    1
  91. Giang Hạ tặng Vi Nam Lăng Băng
    2
  92. Giang thượng ngâm
    11
  93. Giang thượng tống nữ đạo sĩ Trữ Tam Thanh du Nam Nhạc
    1
  94. Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư sơn nhân túc, trí tửu
    14
  95. Há Giang Lăng - Tảo phát Bạch Đế thành
    28
  96. Hạ nhật sơn trung
    5
  97. Hàn lâm độc thư ngôn hoài trình tập hiền chư học sĩ
    3
  98. Hành lộ nan kỳ 1
    12
  99. Hành lộ nan kỳ 2
    4
  100. Hành lộ nan kỳ 3
    4
  101. Hí tặng Đỗ Phủ
    9
  102. Hiệp khách hành
    12
  103. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
    55
  104. Hoành giang từ kỳ 1
    10
  105. Hoành giang từ kỳ 2
    5
  106. Hoành giang từ kỳ 3
    6
  107. Hoành giang từ kỳ 4
    5
  108. Hoành giang từ kỳ 5
    9
  109. Hoành giang từ kỳ 6
    5
  110. Hồ biên thái liên phụ
    2
  111. Kết miệt tử
    9
  112. Khách trung tác
    18
  113. Khẩu hào tặng trưng quân Lư Hồng công thì bị triệu
    5
  114. Khốc Triều Khanh Hành
    6
  115. Khốc Tuyên Thành thiện nhưỡng Kỷ tẩu
    2
  116. Khuê tình
    9
  117. Kim Hương tống Vi bát chi Tây Kinh
    5
  118. Kim Lăng kỳ 3
    7
  119. Kim Lăng thành tây lâu nguyệt hạ ngâm
    2
  120. Kim Lăng tử từ
    3
  121. Kim Lăng tửu tứ lưu biệt
    18
  122. Kinh Hạ Bì Dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng
    9
  123. Ký Đông Lỗ nhị trĩ tử
    3
  124. Ký Hoài Nam hữu nhân
    2
  125. Ký Thôi thị ngự
    6
  126. Ký viễn
    22
  127. Ký viễn kỳ 11
    1
  128. Ký Vương Hán Dương
    2
  129. Lạc Dương mạch
    5
  130. Lạc nhật ức sơn trung
    2
  131. Lãm kính thư hoài
    1
  132. Lao Lao đình
    27
  133. Lao Lao đình ca
    1
  134. Lâm lộ ca
    2
  135. Lỗ quận đông Thạch Môn tống Đỗ nhị phủ
    1
  136. Lỗ trung đô đông lâu tuý khởi tác
    4
  137. Lục thuỷ khúc
    18
  138. Lư sơn dao ký Lư thị ngự Hư Chu
    3
  139. Mạch thượng tặng mỹ nhân
    17
  140. Mộc dục tử
    4
  141. Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt
    4
  142. Nam Dương tống khách
    1
  143. Nam Lăng biệt nhi đồng nhập kinh
    2
  144. Nam lưu Dạ Lang ký nội
    3
  145. Nga My sơn nguyệt
    16
  146. Nga My sơn nguyệt ca tống Thục tăng Yến nhập trung kinh
    2
  147. Nghĩ cổ kỳ 5
    11
  148. Ngọc Chân công chúa biệt quán khổ vũ tặng Vệ Uý Trương Khanh kỳ 1
    1
  149. Ngọc giai oán
    23
  150. Ngọc hồ ngâm
    3
  151. Ngô vương mỹ nhân bán tuý
    17
  152. Nguyệt dạ giang hành ký Thôi viên ngoại Tông Chi
    2
  153. Nguyệt hạ độc chước kỳ 1
    25
  154. Nguyệt hạ độc chước kỳ 2
    4
  155. Nguyệt hạ độc chước kỳ 3
    10
  156. Nguyệt hạ độc chước kỳ 4
    6
  157. Nhật xuất nhập hành
    2
  158. Oán tình
    29
  159. Ô dạ đề
    17
  160. Ô thê khúc
    11
  161. Phỏng Đới Thiên sơn đạo sĩ bất ngộ
    10
  162. Phù Phong hào sĩ ca
    5
  163. Quá Thôi bát trượng thuỷ đình
    4
  164. Quan Hồ nhân xuy địch
    5
  165. Quan liệp
    4
  166. Quan san nguyệt
    17
  167. Quân hành
    2
  168. Sa Khâu thành hạ ký Đỗ Phủ
    11
  169. Song yến ly
    6
  170. Sơ xuất Kim Môn tầm Vương thị ngự bất ngộ, vịnh bích thượng anh vũ
    2
  171. Sơn trung dữ u nhân đối chước
    9
  172. Sơn trung vấn đáp
    19
  173. Tạ công đình
    6
  174. Tái hạ khúc kỳ 1
    11
  175. Tái hạ khúc kỳ 2
    11
  176. Tái hạ khúc kỳ 3
    7
  177. Tái hạ khúc kỳ 4
    7
  178. Tái hạ khúc kỳ 5
    7
  179. Tái hạ khúc kỳ 6
    8
  180. Tái thượng khúc kỳ 1
    8
  181. Tái thượng khúc kỳ 2
    8
  182. Tảo xuân ký Vương Hán Dương
    2
  183. Tặng Hà thất phán quan Xương Hạo
    2
  184. Tặng Lô tư hộ
    4
  185. Tặng Mạnh Hạo Nhiên
    12
  186. Tặng nội
    16
  187. Tặng Tiền trưng quân Thiếu Dương
    8
  188. Tặng Tuyên Châu Linh Nguyên tự Trọng Tuấn công
    1
  189. Tặng Uông Luân
    19
  190. Tầm Ung tôn sư ẩn cư
    12
  191. Tây Thi
    2
  192. Thái liên khúc kỳ 1
    16
  193. Thái liên khúc kỳ 2
    11
  194. Thanh bình điệu kỳ 1
    68
  195. Thanh bình điệu kỳ 2
    26
  196. Thanh bình điệu kỳ 3
    26
  197. Thanh khê bán dạ văn địch
    4
  198. Thanh Khê hành
    3
  199. Thị tòng du túc ôn tuyền cung tác
    5
  200. Thiếp bạc mệnh
    8
  201. Thiếu niên hành kỳ 1
    4
  202. Thiếu niên hành kỳ 2
    15
  203. Thính Thục tăng Tuấn đàn cầm
    14
  204. Thu đăng Tuyên Thành Tạ Diễu bắc lâu
    8
  205. Thu há Kinh Môn
    4
  206. Thu nhật Lỗ quận Nghiêu từ đình thượng yến biệt Đỗ bổ khuyết, Phạm thị ngự
    2
  207. Thu phong từ
    27
  208. Thu phố ca kỳ 01
    6
  209. Thu phố ca kỳ 02
    4
  210. Thu phố ca kỳ 03
    5
  211. Thu phố ca kỳ 04
    4
  212. Thu phố ca kỳ 05
    4
  213. Thu phố ca kỳ 06
    4
  214. Thu phố ca kỳ 07
    4
  215. Thu phố ca kỳ 08
    4
  216. Thu phố ca kỳ 09
    5
  217. Thu phố ca kỳ 10
    4
  218. Thu phố ca kỳ 11
    4
  219. Thu phố ca kỳ 12
    4
  220. Thu phố ca kỳ 13
    4
  221. Thu phố ca kỳ 14
    4
  222. Thu phố ca kỳ 15
    18
  223. Thu phố ca kỳ 16
    4
  224. Thu phố ca kỳ 17
    3
  225. Thu Phố ký nội
    3
  226. Thu tịch lữ hoài
    4
  227. Thu tứ
    11
  228. Thục đạo nan
    4
  229. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 01
    4
  230. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 02
    4
  231. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 03
    5
  232. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 04
    6
  233. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 05
    5
  234. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 06
    3
  235. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 07
    4
  236. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 08
    4
  237. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 09
    4
  238. Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca kỳ 10
    4
  239. Thượng Lưu Điền hành
    1
  240. Thướng Tam Hiệp
    3
  241. Thương tiến tửu
    28
  242. Tĩnh dạ tứ
    152
  243. Tòng quân hành
    5
  244. Tô đài lãm cổ
    18
  245. Tống biệt
    2
  246. Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn kỳ 1
    3
  247. Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung Sơn kỳ 2
    5
  248. Tống Chúc bát chi Giang Đông phú đắc hoán sa thạch
    1
  249. Tống Dương Sơn Nhân quy Tung Sơn
    7
  250. Tống Hạ Giám quy Tứ Minh ứng chế
    9
  251. Tống Hạ tân khách quy Việt
    2
  252. Tống Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Khổng Sào Phủ hoàn sơn
    3
  253. Tống hữu nhân
    44
  254. Tống hữu nhân nhập Thục
    8
  255. Tống khách quy Ngô
    10
  256. Tống Khích Ngang trích Ba Trung
    1
  257. Tống Khúc Thập thiếu phủ
    2
  258. Tống Trừ Ung chi Vũ Xương
    3
  259. Tống Trương xá nhân chi Giang Đông
    7
  260. Trào Lỗ nho
    3
  261. Trùng ức Hạ giám
    3
  262. Trường Can hành kỳ 1
    19
  263. Trường Can hành kỳ 2
    10
  264. Trường Môn oán kỳ 1
    7
  265. Trường Môn oán kỳ 2
    7
  266. Trường tương tư kỳ 1
    18
  267. Trường tương tư kỳ 2
    11
  268. Túc Ngũ Tùng sơn hạ Tuân ảo gia
    1
  269. Túc Vu sơn hạ
    1
  270. Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân
    28
  271. Tuyên thành kiến đỗ quyên hoa
    10
  272. Tư biên
    12
  273. Tử Dạ đông ca
    7
  274. Tử Dạ hạ ca
    7
  275. Tử Dạ thu ca
    24
  276. Tử Dạ xuân ca
    16
  277. Tự khiển
    16
  278. Tương Dương ca
    2
  279. Tương Dương khúc kỳ 1
    3
  280. Tương phùng hành
    1
  281. U Châu Hồ mã khách ca
    3
  282. U giản tuyền
    1
  283. Ức cựu du ký Tiều quận Nguyên tham quân
    2
  284. Ức Đông Sơn kỳ 1
    30
  285. Ức Đông Sơn kỳ 2
    11
  286. Ức Tần Nga
    7
  287. Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử ký
    13
  288. Vi thảo đáng tác lan
    4
  289. Viễn biệt ly
    3
  290. Việt nữ từ kỳ 1
    6
  291. Việt nữ từ kỳ 2
    6
  292. Việt nữ từ kỳ 3
    11
  293. Việt nữ từ kỳ 4
    5
  294. Việt nữ từ kỳ 5
    6
  295. Việt trung lãm cổ
    19
  296. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 01
    4
  297. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 02
    4
  298. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 03
    5
  299. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 04
    4
  300. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 05
    3
  301. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 06
    3
  302. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 07
    2
  303. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 08
    3
  304. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 09
    2
  305. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 10
    2
  306. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 11
    2
  307. Vĩnh Vương đông tuần ca kỳ 11
    1
  308. Vọng Anh Vũ châu hoài Nễ Hành
    4
  309. Vọng Chung Nam sơn ký Tử Các ẩn giả
    3
  310. Vọng Cửu Hoa tặng Thanh dương Vi Trọng Kham
    4
  311. Vọng Hán Dương liễu sắc ký Vương Tể
    3
  312. Vọng Lư sơn bộc bố
    32
  313. Vọng Lư sơn ngũ lão phong
    4
  314. Vọng nguyệt hữu hoài
    2
  315. Vọng phu thạch
    2
  316. Vọng Thiên Môn sơn
    7
  317. Vương Chiêu Quân kỳ 1
    6
  318. Vương Chiêu Quân kỳ 2
    8
  319. Xích Bích ca tống biệt
    6
  320. Xuân dạ Lạc thành văn địch
    24
  321. Xuân dạ yến đào lý viên tự
    6
  322. Xuân nhật độc chước kỳ 1
    12
  323. Xuân nhật quy sơn ký Mạnh Hạo Nhiên
    3
  324. Xuân nhật tuý khởi ngôn chí
    15
  325. Xuân oán
    4
  326. Xuân tứ
    33
  327. Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 1
    5
  328. Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 2
    6
  329. Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 3
    6
  330. Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 4
    4
  331. Yến Trịnh tham khanh sơn trì
    2

 

 

Ảnh đại diện

Giới thiệu về nhà thơ Lý Bạch

Lý Bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa. Lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỵ 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua Hồ Động Đình, lên Sơn Tây Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật (sáu người ẩn dật trong khe trúc). Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Tràng An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ. Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn “vong niên” (bạn “quên tuổi tác”, không coi trọng tuổi tác - Đỗ Phủ nhỏ hơn Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chôi, thưởng trăng ngắm hoa, san bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương Nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lô Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ (An Huy) là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên (ông tiên trong làng thơ), Trích tiên (tiên giáng trần), Tửu trung tiên (ông tiên trong làng rượu)...

Khi ông mất, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông. Theo đó thì nhà thơ làm khoảng 20,000 bài, nhưng ông không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1,800 bài.

Thơ ông viết về mọi đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.

Đất nước Trung Hoa hiện lên tráng lệ dưới ngòi bút của ông. Sông Hoàng Hà cuồn cuộn chảy ra biển đông như một lực sĩ:
Quân bất kiến:
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
(Thương tiến tửu)

Há chẳng thấy nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống
Chảy tuột biển Đông chẳng quay về
Sông Dương Tử (tức Trường Giang) đi vào thơ ông như giải lụa thắt ngang trời:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa giang nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời
Thác Hương Lô được miêu tả như sông Ngân Hà tuột khỏi mây:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
(Vọng Lư Sơn bộc bố)

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này:
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
Tả cảnh thiên nhiên mà tráng lệ như thế, rõ ràng tác giả đã yêu quê hương, đất nước biết nhường nào. Lòng yêu nước ở Lý Bạch chính là bắt nguồn từ lòng yêu sông núi quê hương vậy.

Bài tứ tuyệt thể hiện nỗi lòng nhớ quê hương da diết của ông là bài Tĩnh dạ tứ (Nỗi lòng trong đêm thanh vắng), một bài thơ mà không người Trung Quốc tha phương cầu thực nào không thuộc lòng:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sơn.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Tương Như dịch)
Chính vì lòng yêu quê hương, đất nước mà Lý Bạch có lòng đồng cảm sâu sắc với số phận của nhân dân - những người chăm bón vun trồng cho vườn hoa đất nước. Nếu Đỗ Phủ do cuộc đời chìm ngập trong khói lửa loạn ly, do cảm hứng trách nhiệm của một nhà Nho mà chủ yếu nói đến số phận đẫm máu và nước mắt của nhân dân thì Lý Bạch do sống chủ yếu trong thời thịnh vượng của nhà Đường, lại do khát khao cái đẹp, cái bay bổng diệu kỳ của một nhà thơ lãng mạn mà ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ và nói đến những trăn trở thầm kín của họ. Bất kể đối tượng xã hội nào, nếu là người đẹp, một vẻ đẹp đầy nữ tính đều tạo nên nguồn cảm hứng mạnh cho nhà thơ. Bài Thái liên khúc (khúc hát hái sen) miêu tả cô gái hái sen thoắt ẩn thoắt hiện giữa một không gian đầy hoa, hoa trên đầm sen, hoa dưới nước. Mấy cô thôn nữ đã hiện về như những nàng tiên giáng trần. Ba bài Thanh bình điệu tả vẻ đẹp của nàng Dương quý phi thật mê hồn. Nhưng điều cần nói là trong mắt Lý Bạch, Dương quý phi không hiện lên với vẻ đẹp kiêu sa của một cung phi mà chỉ là một người đẹp trong suốt và ẻo lả. Ta nhớ lời thơ của ông:
Nước trong sẽ nở hoa sen
Thiên nhiên là đẹp chớ nên vẽ vời
Bởi vậy, lòng đồng cảm của ông dành cho phụ nữ là lòng đồng cảm với phái đẹp và cũng là phái yếu. Ông hiểu thấu nỗi trăn trở đầy nữ tính của họ. Bài Xuân tứ nói đến nỗi tê tái của người vợ trẻ có chồng tiễn biệt nơi biên cương:
Cỏ Yên vừa nhú tơ xanh
Dâu Tần đã rũ lá cành xum xuê
Khi chàng tưởng nhớ ngày về,
Chính là lúc thiếp tái tê cõi lòng
Gió xuân đâu biết cho cùng,
Cớ chi len lỏi vào trong màn là?
(Cảm xúc mùa xuân)
Cái cảm xúc “gió động màn” của người vợ trẻ phòng không gối chiếc ấy, chỉ có người trong cuộc mới có. Chứng tỏ nhà thơ am hiểu sâu sắc nhân vật trữ tình của mình. Cũng như vậy, Tử Dạ Ngô ca nói đến nỗi niềm của người phụ nữ giặt áo bông khi gió heo may về để kịp gửi cho người chinh chiến phương xa. Trường can hành nói đến nỗi sầu bi của người thương phụ, chồng đi xa, lại vì đồng tiền lời mà coi khinh ly biệt (Thương nhân trọng lợi khinh ly biệt). Ngọc giai oán, Vương Chiêu Quân... lại bày tỏ nỗi lòng đồng cảm với cung nữ...

Tóm lại chủ nghĩa nhân đạo ở mỗi nhà thơ lại có biểu hiện khác nhau. Ở Lý Bạch, một nhà thơ phóng khoáng bay bổng, ít chịu ảnh hưởng cho Nho gia mà nhiều hơn là Đạo gia và Du hiệp, thì lòng đồng cảm với cái đẹp, sự xót xa trước cái đẹp bị vùi dập, bị chà đạp lại là biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa nhân đạo của nhà thơ.

Nhưng trong xã hội xưa, chò dù vào thời kỳ thịnh vượng nhất của nhà Đường, bất công ngang trái vẫn là hiện tượng phổ biến. Bất công ấy đổ lên đầu nhà thơ. Ông ôm ấp chí lớn, muốn làm “con cá vắt ngang biển” (hoành hải ngư), muốn “chém sạch cá kình cá nghê, khơi trong dòng Lạc Thuỷ (Tặng Trương Tương Cảo), nhưng ông không khỏi thất vọng. Ông nói: “Tôi vốn không bỏ đời mà đời bỏ tôi). Có tài mà không được dùng, có chí mà không nơi thi thố, tâm hồn đa cảm mà bất lực trước xã hội. Điều đó tạo nên những vần thơ u uẩn bất đắc chí của ông. Hàng loạt bài như Hành lộ nan (Đường đời khó khăn), Thương tiến tửu (Hãy cạn chén), Nguyệt hạ độc chước 2 bài (Một mình uống rượu dưới trăng) đã bộc bạch tâm sự ấy. Có lúc ông mượn rượu để giải sầu:
Đời người đắc ý cứ say đi
Trăng suông chén trống để mà chi
Nhưng rồi cái buồn vẫn đeo đẳng, biến thành phẫn uất:
Rút dao chém nước, nước vẫn chảy
Cất chén tiêu sầu, sầu vẫn sầu
Trăng và rượu, tiên và kiếm kết hợp trong tâm tư đầy mâu thuẫn của nhà thơ. Thực trạng ấy khiến có lúc ông buông thả, hành lạc, nhưng chung quy vẫn là tinh thần tiến thủ, vì cái đẹp, vì cuộc sống vẫn quán xuyến tư tưởng nhà thơ.

Ở Việt Nam, tứ thơ mạnh mẽ, say mê của Lý Bạch ảnh hưởng nhiều đến Chinh phụ ngâm, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Nhưng cũng không ít người chịu ảnh hưởng mặt buông thả, hành lạc trong thơ ông, tiêu biểu là Vũ Hoàng Chương.

Lương Duy Thứ
(trích Đại cương văn hoá phương Đông)
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
45.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Lý Bạch học kiếm

Lý Bạch được đời ca tụng là thi tiên vốn là một nhà thơ cực lớn đời Đường, Trung Quốc. Từ nhỏ, ông đã có chí lớn quyết tâm báo đền ơn nước nên đã cất công luyện võ với ý chí và nghị lực của người có thể “mài cây gậy sắt thành mũi kim khâu”. Năm hai mươi sáu tuổi bụng chứa đầy kinh luân, Lý Bạch mang kiếm từ biệt người thân lên đường đi xa lập nghiệp. Chuyến đi này quả thực có tác dụng vô cùng to lớn đối với sự nghiệp sáng tác thơ ca và võ nghệ sau này của ông.

Vỡ lòng học kiếm

Từ nhỏ Lý Bạch đã học kiếm do bố là Lý Khách dạy, tới năm Bạch mười lăm tuổi được bố đem vàng bạc đón một kiếm sĩ về dạy. Lý Bạch vốn thiên tư thông tuệ, nghị lực hơn người nên chỉ nửa năm học kiếm đã đấu ngang cơ với sư phụ. Trong thư của ông gửi Vĩ Kinh Châu có kể “mười lăm tuổi học kiếm thuật”, còn trong một thư khác gửi bạn trẻ cũng nói “học kiếm thuật từ bé”. Qua đó đủ thấy tố chất võ học của Lý Bạch không phải là kém và “học kiếm” là một môn học thời thượng đời Đường, cũng được ông say mê luyện tập từ thủa ấu thơ đã có kết quả như bạn ông là Nguỵ Hạo Tăng đã từng khen: “Giỏi từ bé, khối người bị hạ dưới tay Bạch”. Bố Lý Bạch lại mời thầy đúc kiếm giỏi ở Thành Đô bỏ công sức ba năm rèn một thanh kiếm báu tuyệt vời đặt tên là “Nhật Nguyệt” cho con.

Học kiếm ở Khuông Sơn, Mân Sơn

Năm Khai Nguyên thứ sáu (năm 719 sau CN, đời Đường Huyền Tôn Lý Long Cơ), Lý Bạch 18 tuổi lên ở tại Khuông Sơn đọc sách và luyện kiếm. Khuông sơn có một ngôi chùa cổ do hoà thượng Không Linh trụ trì. Không Linh đại sư học vấn uyên thâm, tinh thông Phật học, lại giỏi võ nghệ, về kiếm thuật phải nói là siêu tuyệt. Lý Bạch thờ đại sư làm thầy, học kiếm ở chùa hai năm liền. Vì mẹ bệnh nặng nhắn về nên Lý Bạch phải rời thầy bỏ chùa mà luyến tiếc khôn nguôi.

Năm Khai Nguyên thứ tám, vừa tròn 20 tuổi, Lý Bạch lên chơi Mân sơn gặp một nhân vật nổi tiếng đương thời là Đông Nghiêm Tử. Thấy Lý Bạch múa kiếm một mình trong rừng cây khí thế khác thường, Đông Nghiêm Tử bảo: “Ta sẽ nhận cậu làm đệ tử” Thấy Đông Nghiêm Tử nói năng, tỏ vẻ tài giỏi tướng mạo thanh nhã như thần tiên, Lý Bạch theo ông ta lên Mân sơn học văn, học kiếm liền ba năm. Sau đó được sư phụ cho xuống núi cùng sư huynh Ngô Chỉ Nam để mở rộng hiểu biết và trui rèn tài năng.

Học kiếm ở Sơn Đông

Năm 36 tuổi, Lý Bạch đã rất nổi tiếng về tài làm thơ được tôn làm “nhất tuyệt”. Cùng thời, Phỉ Dực cũng được tôn xưng là “thiên hạ đệ nhất kiếm”. Lý Bạch viết thư cho Lý Dực, thư có đoạn: “Tôi tự nguyện làm môn hạ của tướng quân...” Phỉ Dực thấy Lý Bạch thành khẩn thiết tha lại nghĩ có nhà thơ “nhất tuyệt” vào làm môn hạ khiến ông ta càng thêm vẻ vang bèn đồng ý.

Lý Bạch theo Phỉ Dực sang Sơn Đông học kiếm ba năm, dù nắng cháy, rét cắt da ông vẫn ngày đêm miệt mài luyện kiếm, kiên trì tập luyện không chút lơ là. Chính ở giai đoạn này trong thơ của Lý Bạch có những câu: “Rút kiếm lúc sương sớm, Đêm chạy kiếm quanh nhà,...” Nhờ kiên trì luyện tập như vậy nên Kiếm thuật của Lý Bạch ngày càng điêu luyện. Khi thầy trò chia tay, Phỉ Dực đã khen trình độ kiếm thuật của Lý Bạch: “Trong hư có thực, trong mềm có cứng, tiến thoái như chớp, biến hoá khôn lường”.

Nhờ thích kiếm thuật, yêu thích việc học kiếm và giỏi kiếm thuật, không ít bài thơ sau này của Lý Bạch có dính dáng đến kiếm, kiếm thuật và kiếm sĩ. Bài Hiệp Khách Hành là một trong số đó.

(Thuý Thanh @Mai Hoa Trang sưu tầm)
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Thân thế và sự nghiệp Lý Bạch

I. Thân thế và quá trình sáng tác
1. Tuổi trẻ du hiệp

Lý Bạch sinh năm 701, mất năm 762, tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, là một nhà thơ lớn thời Thịnh Đường, cùng tuổi với Vương Duy, hơn Đỗ Phủ 12 tuổi. Theo lời tự bạch của ông thì ông là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng đời Hán và là cháu chín đời của họ Lương Vũ Chiêu vương. Khoảng năm 670, cuối Tuỳ, ông thân sinh vì một cớ nào đó không rõ phải trốn sang Tây Vực, sau lấy vợ là người bản xứ (gọi là Man bà) và sinh ra ông vào năm Vũ Hậu cướp ngôi nhà Đường. Vì vậy Lý Bạch không những biết chữ Tây Vực mà ông còn kế thừa tính cách phóng khoáng tự nhiên của người Tây Vực. Đến khi Vũ Hậu sụp đổ, gia đình ông rời Tây Vực về ngụ tại làng Thanh Liên, huyện Chương Minh thuộc huyện Miên Châu xứ Ba Thục (nay là huyện Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên) và ông coi đây là quê hương chính thức của mình.

Lý Bạch ra đời năm đầu Trường An (701). Tương truyền mẹ ông nằm mộng thấy sao Trường Canh rơi vào mình và có thai rồi sinh ra ông, nên ông mới lấy tên tự là Thái Bạch (tức sao Trường Canh). Lý Bạch rất thông minh đĩnh ngộ, lên năm tuổi đã biết đọc Lục giáp, mười tuổi thì thong hiểu thi thư, thường xem them sách bách gia chư tử. Năm mười lăm tuổi, ông lại thích và rèn kiếm thuật. Ông múa gươm giỏi và đẹp, thường ước mong làm trang hiệp khách với hào khí “giữa đường dẫu thấy bất bằng chẳng tha”. Thời này ông hay viết những bài phú mô phỏng cổ nhân như Thư gửi Hàn Kinh Châu, Phú ngạo Tư Mã Tương Như. Học giỏi, có tài, nhưng ông không để chí vào đường khoa danh. Năm 16 tuổi (716), ông cùng Đông Nham Tử đi ẩn tại phía nam núi Dân. Lúc 20 tuổi bắt đầu sống cuộc đời hiệp khách.

Lý Bạch đi du lịch khắp nơi: viếng Thành Đô, thăm núi Nga Mi, Thanh Thành, rong chơi hồ Động Đình, lưu vực Tương giang, Hán giang, qua Giang Hạ đến Kim Lăng, Dương Châu, Nhữ Hải, vào Ngô Việt… Năm 726, ông đến An Lục (nay thuộc Hồ Bắc), thăm đầm Vân Mộng. Tại đây ông cưới vợ là cháu gái quan tể tướng hồi hưu Hứa Ngữ Sư, rồi tạm dừng chân phiêu lãng và bắt đầu nổi tiếng văn chương giữa tuổi 30.

Nhưng không ở yên được lâu, Lý Bạch đến Tương Dương, làm quen với nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên, người lớn hơn ông 10 tuổi. Từ đó ông tha thiết muốn được hoạt động “kinh bang tế thế”. Lý tưởng của ông là “làm rõ lời bàn của Quản Trọng, Án Anh, tính mưu chước của đế vương, đem tài năng, trí tuệ nguyện giúp nhà vua để cho thiên hạ yên ổn, bốn bể thanh bình” (Đại Thọ sơn đáp Mạnh thiếu phủ di văn). Nhưng ông thường tự phụ, ví mình với Lã Vọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng, thái độ “không chịu khom mình”, “không cầu cạnh ai”, “giao thiệp ngang hàng với chư hầu” nên ông không được giới chính trị hoan nghênh. Năm 741, ông đưa gia quyến đến ở Duyện Châu (Sơn Đông). Thơ ông đã đạt đến độ chin muồi, mang đầy đủ cái cao rộng của thiên nhiên, cái phóng khoáng của tự do, cái phong độ ngang tàng của hiệp khách.

2. Trường An dừng bước (742-744)

Năm đầu Thiên Bảo (742), Lý Bạch rời nhà xuống miền nam, đi chơi Cối Kê (Chiết Giang), ngụ tại Thiểm Trung với đạo sĩ Ngô Quân. Ngô Quân được vua triệu về kinh, đem Lý Bạch theo. Ông phấn khởi cho rằng có thể thực hiện được lý tưởng chính trị của mình, nên “Ngửa mặt cả cười ra khỏi cửa, Bọn mình đâu phải sống lều tranh” (Nam Lăng biệt nhi đồng nhập kinh). Hạ Tri Chương gặp ông, nói: “Đó là một trích tiên giáng trần”. Vì vậy, người ta thường gọi ông là Trích Tiên (ông tiên bị đày xuống trần). Hạ tiến cử ông, vua Huyền Tông vời vào bệ kiến. Tương truyền thấy ông thần khí cao lãng, phong thái nhẹ nhàng như ráng mây, vua bất giác quên mình là đấng chí tôn, bước xuống thềm đón. Nhân vua ban giày mới, ông giơ chân cho thái giám Cao Lực Sĩ thay (Đoàn Thành Thức, Dậu dương tạp trở). Vua mến tài, cho ông vào điện Kim Loan, phụ trách việc thảo thư từ.

Bấy giờ ngoài Hạ Tri Chương, ông còn kết bạn với Thôi Tông Chi, Vương Tiến, Tô Tấn, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi, gọi là “Tửu trung bát tiên”. Thời kỳ này ở kinh đô là thời kỳ quý hiển nhất của ông trên con đường công danh.

Năm 744, nhân một ngày hoa nở đẹp, Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý Phi ra thưởng ngoạn mẫu đơn ở vườn ngự, sai đội nhạc ca hát. Muốn làm vui long người đẹp, vua triệu Lý Bạch vào làm tân từ cho nhạc. Vẫn đang say, ông viết luôn ba bài Thanh bình điệu, vua và phi nghe hát rất thích. Nhưng Cao Lực Sĩ vốn giận ông việc thay giày khi trước, đem hai câu thơ trong bài ra dèm là ông ví Dương Quý Phi với Triệu Phi Yến, cung nhân đời Hán, xuất thân hạ tiện, sau bị thất sủng. Vì thế, Quý Phi giận, đôi lần vua muốn thăng chức cho ông nàng đều ngăn trở...

Đường Huyền Tông lúc này không còn là một ông vua anh minh chú ý đến việc trị nước nữa, giao hết chính sự cho bọn gian thần Lý Lâm Phủ, còn mình chỉ truy hoan hưởng lạc. Lý Bạch chẳng qua cũng chỉ là một thứ “văn nhân ngự dụng” mà thôi. Ông bất bình vì không ai hiểu chí mình, căm phẫn cho cảnh “cát lẫn hòn ngọc sang, cỏ lấn chồi hoa thơm”, “ngọc trắng nào có tội, ruồi xanh lại vu oan”. Với bản chất phóng túng, ghét cảnh mũ áo rang buộc, không muốn “uốn lưng cúi mày thờ phụng bọn quyền quý”, lại them nhận thức rõ rang về sự hủ bại, thối nát qua mấy năm tiếp xúc, ông từ quan xin về. Đường Minh Hoàng tặng nhiều vàng bạc. Ông rời kinh đô và tiếp tục đời sống giang hồ lãng tử, để cho thơ tung cánh giữa đất nước bao la.

3. Lão niên phiêu bạt (745-762)

Từ giã Trường An, Lý Bạch đến Lạc Dương gặp Đỗ Phủ (744) rồi gặp Cao Thích ở Biện Châu. Ba nhà thơ cùng đi chơi với nhau mấy tháng trời. Sau khi từ biệt Đỗ Phủ tại quận Lỗ, Duyện Châu (Sơn Đông), Lý Bạch lại đi du lịch các nơi. Có lẽ không nhà thơ nào trải bước chân khắp đất nước như ông, ngay cả Đỗ Phủ cũng không sánh được, hẳn chẳng chịu nhường Tư Mã Thiên. Phía Bắc ông lên Triệu, Nguỵ, Tề; phía tây qua Bân, Ký, Thương, U; phía nam ông đặt chân đến song Hoài, sông Tứ, xuống tận Cối Kê... Tháng 11 năm 755, An Lộc Sơn khởi binh làm loạn, chống triều đình, gây tàn phá chết choc vùng phía bắc Trường Giang. Lý Bạch liền vào Lư Sơn, ở ẩn tại Bình Phong Điệp.

Nhưng cuộc đời nhà thơ bỗng gặp cơn ba đào. Nguyên năm 756, Túc Tông lên ngôi. Bấy giờ Vĩnh vương Lý Lân là con thứ 16 của Đường Minh Hoàng đang làm Kinh Châu đại đô đốc, tiết độ sứ cai quản Sơn Đông nam lộ, Lĩnh Nam kiềm trung, Giang Nam tây lộ. Lân giương ngọn cờ dẹp loạn An Lộc Sơn, mời Lý Bạch ra làm việc tại phủ đô đốc. Giữa Túc Tông và Lý Lân vốn đã có mối bất hoà, Lân liền có chí độc lập. Năm 757, Túc Tông cất quân đánh Lý Lân. Lân thua ở Đan Dương, bị giết chết. Lý Bạch chạy sang Bành Trạch, Túc Tùng, bị bắt giam tại ngục Tầm Dương. Tuyên uý đại sứ Thôi Chi Hoán và Ngự sử trung thừ Trương Nhược Tư cố sức xin tha cho ông. Nhược Tư đem quân đến Hà Nam phóng thích Lý Bạch, cử làm tham mưu quân sự, dâng thư lên vua nhưng không được xét. Lý Bạch vẫn bị kết án phản nghịch và khép tội tử hình. Quách Tử Nghi bấy giờ làm tể tướng, nhớ ơn xưa, xin giải chức chuộc tội cho ông vua mới tha chết, giảm án xuống đi đày.

Năm 758, Lý Bạch bị phát vãng đi Dạ Lang (nay huyện Đồng Tử, Quỳ Châu), đi qua Động Đình, Tam Giáp. Đỗ Phủ ở huyện Thiên Thuỷ, Tần Châu nghe tin vô cùng thương xót, làm nhiều bài thơ nhớ ông (Mộng Lý Bạch, Thiên mạt hoài Lý Bạch, Bất kiến…). Năm sau, 759, trên đường tới Dạ Lang, ông được tha tại Vu Sơn, bèn đi xuống miền đông tới Hán Dương. Năm 760 ông đến Tri Châu An Khánh, rồi năm 761, sống cuộc đời phóng đãng tại Kim Lăng, Tuyên Thành, Lịch Dương. Năm 762, ông ở nhờ nhà người bà con là Lý Dương Băng đang làm chức huyện lệnh Đang Đồ (An Huy). Tháng tư, Đại Tông mới lên ngôi, có ý vời ông vào triều làm chức thập di. Bấy giờ loạn An Sử vẫn còn, nhiệt tình yêu nước và ý chí hoạt động chính trị lại bung cháy, ông dâng thư xin gia nhập đoàn quân dẹp loạn, được chuẩn y. Nhưng đến Kim Lăng, ông ngã bệnh phải trở về và mất vào tháng 11 năm ấy. Đỗ Phủ, Vương Định Bảo và Hồng Dung Trai nói Lý Bạch chết đuối tại sông Thái Thạch, huyện Đang Đồ. Tương truyền ông uống rượu say, cúi xuống bắt bóng trăng dưới nước nên ngã chết. Nhân đó người ta xây bên sông một cái đình, đặt tên là Tróc Nguyệt đình. Lý Bạch có bốn người vợ, ba con trai và một con gái.

Sau khi Lý Bạch mất, Dương Băng thu thập thơ ông, thấy chỉ còn lại chừng một phần mười, vì ông thường làm rồi quên, không bao giờ có ý giữ gìn và truyền bá thơ mình. Vả lại thơ ông “vương vãi” khắp nơi trên một địa bàn rộng mênh mông, gây khó khăn lớn cho người sưu tập. Mãi đến năm 1080, Sung Ming Chiu mới gom góp được 1800 bài (trong số trên hai chục nghìn bài của ông) làm thành Lý Bạch thi tập.

II. Thành tựu thơ ca của Lý Bạch
1. Quan niệm về thơ ca

Thành tựu thơ ca của Lý Bạch vượt quá cống hiến về lý luận. Hay nói cho đúng, ông chỉ sang tác chứ không lý luận. Tuy nhiên, qua thơ ca của ông, chúng ta có thể thoáng thấy quan niệm làm thơ của ông là theo phương châm “kế thừa có phê phán, phục cổ để cách tân”. Sau Trần Tử Ngang, Lý Bạch đã tiếp tục quán triệt và vận dụng phương châm đó. Ông nói: “Từ Trần, Lương trở lại nay, [thơ] trở thành cực kỳ diêm dúa và nông cạn; Thẩm Hữu Văn (tức Thẩm Ước) lại tôn sung thanh luật, người phục hồi không phải là ta thì còn ai nữa?” (Mạnh Khởi, Bản sự thi – Cao dật đệ tam).

Tinh thần sáng tạo cách tân của ông còn thể hiện đột xuất trong bài Cổ phong: “Học nhăn cô khỉ non, làm cả xóm hết hồn. Thọ Lăng mất điệu cũ, mỉa chết khách Hàm Đan.” Ông châm biếm những kẻ giáo điều, nô lệ cổ nhân trong văn học. Chính vì có tinh thần sang tạo cách tân bồng bột như thế, Lý Bạch mới có cái khí vượt cổ nhân. “Làm phú hơn cả Tương Như, Cửu Kinh đánh đổ họ Khuất, vườn Lương đè hẳn họ Trâu, họ Mai”. Ông cũng như Đỗ Phủ, không bao giờ chịu quỳ gối trước cổ nhân, trái lại, muốn làm cho cổ nhân phải thua mình.

Tuy nhiên, Lý Bạch không phải là người kiêu căng tự phụ, chối bỏ tất cả. Ngược lại, ông ra sức học tập Nhạc phủ Hán, Nguỵ, Lục triều, dân ca đương thời và khiêm tốn kế thừa tinh hoa nghệ thuật của Nguyễn Tịch, Đào Tiềm, Tạ Linh Vận, Tạ Diễu, Bảo Chiếu, Dữu Tín… Vì quán triệt phương châm kế thừa có phê phán, phục cổ để cách tân như thế ông mới có thể đạt được những cống hiến vĩ đại trong thực tiễn sáng tác, và đã cùng nhiều nhà thơ khác trong thời đại mình quét sạch lớp phấn son loè loẹt giả tạo của sáu đời. Làm cho thơ Đường phát triển phồn vinh.

2. Nhân tố tư tưởng

Thời trẻ, Lý Bạch đã “thuộc làu thi thư, xem sách bách gia” cho nên ảnh hưởng người đời trước đối với ông rất rộng rãi, phức tạp. Tư tưởng Nho gia và Đạo gia đều tác động vào ông, nhưng tư tưởng Đạo gia sâu sắc hơn nhiều. Ngay cả tư tưởng du hiệp cũng đóng góp phần hình thành phong cách đặc biệt của ông.

Khi ông định xây dựng sự nghiệp chính trị thì tư tưởng “kiêm tế thiên hạ” của Nho gia chiếm ưu thế. Nhưng tư tưởng Nho gia của ông không nguyên vẹn và giáo điều. Ông nguyện “cứu dân đen”, “làm cho dân đen được an cư lạc nghiệp” chứ không vì vinh hoa phú quý, càng không vì vua chúa quý tộc. Cho nên nhiều lúc ông coi khinh, châm biếm cả ông tổ đạo Nho: “Ta vốn là người điên nước Sở, hát ngông cười Khổng Khâu” lẫn lý tưởng: “Sự nghiệp Nghiêu Thuấn sá kể chi, long ta phơi phới vẫn coi thường”. Lý Bạch không phỉ bang thánh hiền, ông chỉ muốn vạch ra, lật đổ những lý tưởng mơ hồ, giả dối nghìn đời của chế độ phong kiến...

Những lúc ấy, tư tưởng Đạo gia đến với Lý Bạch và ông mượn nó để chống lại tư tưởng Nho gia truyền thống, hay nói đúng hơn là tư tưởng Hán Nho mà bọn phong kiến dùng làm công cụ bảo vệ quyền lợi cho chúng. Theo gót Lão Tử, nhất là Trang Chu, ông dùng tưởng tượng để đi sâu vào bí mật vũ của trụ và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, tạo nên tinh thần và cách biểu hiện lãng mạn trong thơ ca. Tuy có những lúc tiêu cực, chán nản, nhưng tinh thần lãng mạn tích cực thường bao trùm, lấn át trong thơ ông. Tinh thần coi thường vinh hoa phú quý, tự tin vào tài năng, hay mang hoài bão cứu nhân độ thế, ít nhiều gợi lên thái độ “phản nghịch” đối với chế độ phong kiến khiến thơ ông mang ý vị siêu thoát, thể hiện cái khí thế hung tráng, cao rộng.

Tư tưởng du hiệp cũng chiếm địa vị quan trọng ở Lý Bạch. Nhà thơ tự xưng là Nho sinh, nhưng nhiều khi xem thường, thậm chí châm biếm cuộc sống câu nệ, hủ lậu, gàn dở của nho sinh (Trào Lỗ nho). Trái lại, ông hâm mộ cái hào phóng của các hiệp sĩ và tinh thần du hiệp mà họ theo đuổi. Tư tưởng ấy có một ý nghĩa tích cực, và trong một chừng mực nào đó, đại biểu cho ý chí và lợi ích của giai cấp lớp giữa và lớp dưới chống lại giai cấp thống trị. Nhất là khi nó kết hợp với tinh thần “công toại thân thoái” của Đạo gia, làm việc nghĩa không cần ân thưởng, báo đáp.

3. Nội dung thơ ca

Do những nhân tố tư tưởng tích cực nói trên tác động đồng thời và từng lúc vào Lý Bạch nên sáng tác của ông là một kết hợp hài hoà giữa tính lãng mạn và tính hiện thực, trong đó tính lãng mạn chiếm phần thượng phong. Những nội dung của thơ ông phản ánh rõ điều đó.

Loạn An - Sử bung nổ, triều đình thối nát, chính trị hủ bại... Lý Bạch phản ánh trực tiếp nếp sống xa hoa đồi truỵ của tầng lớp quan lại quý tộc, vạch trần các đế vương diễu võ dương oai, mê đắm sắc dục, bạc đãi nhân tài. Ông phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược, xua nhân dân vào những tai hoạ vô cùng đau khổ để kết luận rằng “Gươm đao là vật gở, thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến” (Chiến thành nam). Từ đó, thơ ông chan chứa tình yêu quê hương, yêu đất nước, đau xót trước cảnh xương rơi máu chảy (Tái hạ khúc, Phù Phong hào sĩ ca, Mãnh hổ hành…), những muốn đem trí tuệ, tài năng ra thi thố để “cần vương trạch dân”. Tuy nhiên thực tế phũ phàng khiến ông nhận ra mình chỉ là một thứ đồ trang sức cho cuộc sống xa hoa của giai cấp cung đình. Ông lại chống gậy lên đường, vĩnh biệt những bài thơ mua vui cho bọn quyền quý như Thanh bình điệu...

Yêu nước gắn liền với thương dân, ông đau xót cho số phận nhân dân trong vòng chiến loạn, những con người vất vả khốn khó, làm việc như trâu như ngựa (Đinh đô hộ ca). Lý Bạch đặc biệt chú ý đến người phụ nữ với một tấm lòng nhân đạo đáng quý. Ông phê phán hành động bất nghĩa “có mới nới cũ” của nam giới, nói lên nỗi đau khổ bất hạnh của người phụ nữ bị ruồng bỏ, phụ bạc (Thiếp bạc mệnh, Bạch đầu ngâm…) hay những người phụ nữ ngày đêm mong chồng do chiến tranh ly biệt (Khuê tình, Đảo y thiên…). Đồng thời, ông phản ánh mơ ước của họ về một tình yêu thuỷ chung, một hạnh phúc chân chính (Dạ toạ ngâm, Dương bạn nhi), ca ngợi vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ (Thái liên khúc, Việt nữ từ) và cũng nhiệt tình ca ngợi sự phản kháng của phụ nữ trước bất công, áp bức (Tần nữ lưu hành, Đông Hải hữu dũng phụ). Cũng vì thế mà ông mến phục các nhân vật trọng nghĩa kinh tài, các trang du hiệp “đến chết xương vẫn còn thơm, không thẹn là khách anh hùng trên đời” (Hiệp khách hành) vì họ đã dám chống bạo quyền, bênh vực người cô thế.

Tuy nhiên thơ ca phản ánh hiện thực, tố cáo giai cấp thống trị và cảm thông với nhân dân lao động thì Lý Bạch còn thua xa về chất lượng cũng như số lượng so với Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Ông chỉ vượt hai người này về thơ ca lãng mạn có nội dung tích cực. Đó là sở trường của ông, xưa nay chưa ai địch nổi, đúng như lời khen ngợi của Đỗ Phủ: “Lý Bạch thơ không ai địch nổi, siêu nhiên ý khác thường”. Thơ của ông thẳng cánh bay bổng như muốn thoát ly khỏi mặt đất, khỏi đời thường, xem thường vinh hoa phú quý như mây nổi, tìm chén rượu tiêu sầu, cầu tiên phỏng đạo và ngao du sơn thuỷ. Từ đó ông truyền cho thơ ca một hơi thở mới, một nội dung tân kỳ ít thấy trong văn học cổ điển.

4. Giá trị nghệ thuật

Toàn bộ tác phẩm của Lý Bạch bao gồm hai nhân tố lãng mạn và hiện thực, nhưng nói về khuynh hướng chủ đạo thì ông là bậc thầy của chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Ông có tiếp thu ảnh hưởng của Thi kinh, nhưng ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với ông vẫn là Sở từ của Khuất Nguyên.

Trong lối tự sự, ngôn chí, thuật hoài cũng như miêu tả, Khuất Nguyên đã xây dựng được một loạt những hệ thống hình tượng sinh động, đẹp đẽ, kỳ vĩ khá hoàn chỉnh nhằm phản ánh chân thực mâu thuẫn xã hội và xung đột nội tâm. Từ đó người đọc nhận ra lý tưởng, tình cảm mãnh liệt cùng hoài bão to lớn của tác giả. “Huyền thoại hoá” có thể nói là bút pháp chủ đạo của Ly tao, Cửu chương, Cửu ca...

Lý Bạch kế thừa Khuất Nguyên nhưng phát huy cao hơn với tinh thần sáng tạo, cách tân. Trước hết, ông thường xuyên dùng thủ pháp khoa trương – ngoa dụ của thơ ca dân gian và trí tưởng tượng phong phú trong mọi đề tài. Ông thong qua cảnh giới thần tiên, ảo tưởng, siêu phàm để thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của bản than, lấy chuyện ngày xưa để nói chuyện hiện tại, nhất là khi ông bày tỏ long căm ghét, phê phán, đả kích. Ông lại gửi gắm tâm hồn, tư duy của mình vào thiên nhiên. Thiên nhiên như một người bạn tri âm tri đắc, hiểu rõ nỗi long ông, an ủi, khuyến khích, giúp đỡ ông xua tan những cái xấu xa, đưa lại những điều tốt đẹp. Thủ pháp nhân hoá đó quả là mới mẻ, táo bạo, nẩy sinh từ sức tưởng tượng khác thường, đưa tình cảm sôi nổi và nguyện vọng thiết tha của nhà thơ vào đối tượng được miêu tả, khiến thơ ca giàu ý nghĩ và lôi cuốn. Ông kết hợp khéo léo các cách thể hiện tính lãng mạn như thần thoại hoá, nhân cách hoá, khoa trương ảo tưởng cùng với một thứ ngôn ngữ hào phóng để tạo nên những hình tượng nghệ thuật kỳ vĩ, biểu hiện những lý tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ cũng như long yêu ghét mãnh liệt do hiện thực khêu gợi ra. Trong bài Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt chẳng hạn, những hình ảnh “Thiên Mụ ngang trời chắn núi xanh”, “Mây xanh xanh chừ mưa tới, nước thăm thẳm chừ khói loang”, những âm thanh “Gấu thét rồng gào suối dội vang”, “Sấm vang chớp giật, gò sụt núi tan” cùng những so sánh, ẩn dụ, nhân hoá “Rừng sâu khiếp chừ núi kinh hoàng”, “Mống làm áo chừ gió làm ngựa”, “Loan kéo xe chừ hổ gảy đàn”… tạo nên một thế giới lạ lung, hung vĩ, bí ẩn, đưa tâm hồn con người lên chỗ cao rộng, thoát khỏi cuộc đời tầm thường, nhỏ mọn hang ngày.

Lại nữa, Lý Bạch kế thừa có phê phán, chọn lọc truyền thống tốt đẹp của thơ ca Hán - Nguỵ trở về sau, đồng thời ra sức học tập thơ ca dân gian quá khứ và đương đại nên có những thành tựu trác việt về ngôn ngữ, nghệ thuật: sinh động, hoa mỹ, trau chuốt nhưng trong sang, giản dị, tự nhiên, không hề có dấu vết chạm trổ tỉ mỉ công phu, “áo nhà trời không có đường may” mà thật đẹp, thật hay. Thơ nhạc phủ của ông chiếm một phần đáng kể. Ông dùng đề mục cũ để sáng tạo ý mới, truyền lại hơn một trăm bốn chục bài. Những bìa ông tự đặt đề mà làm cũng giàu phong cách dân ca (Tĩnh dạ tứ, Việt nữ từ, Tặng Uông Luân…). Thơ thất ngôn tuyệt cú của ông – cùng với Vương Xương Linh – là thất ngôn tuyệt cú bậc nhất đời Đường, được xưng tặng là “tay thánh tuyệt cú”. Làm thơ luật ông cũng không câu nệ thanh vận, đối ngẫu, thoát khỏi khuôn khổ gò bó của niêm đối...

Dưới ngọn bút tài hoa của ông, cảnh song núi thanh tú; cảnh chiến trường hung vĩ; vầng trăng lồng lộng theo ông mấy chục năm từ núi Nga Mi đến hồ Thái Bạch; người hiệp sĩ vung gươm làm việc nghĩa quên mình; người thiếu phụ thao thức chốn khuê phòng vò võ nhớ thương; nhà ẩn dật cao ca bên bầu rượu coi khinh hết thảy khanh tướng công hầu… hiện ra sống động và tự nhiên. Không gì ngăn trở nổi trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt của ông được. Và bất cứ đề tài nào thơ ông cũng giàu xúc động, luôn bay bổng, phóng khoáng, uyển chuyển, khó có thể liệt ông voà một “trường phái” nhất định nào. Ngôn ngữ thơ ca của ông khi thì tung hoành mạnh mẽ như “nộ đào hồi lãng”, “Thiên mã hành không”, khi thì dịu dàng hư ảo như “huyền ngoại âm, vị ngoại vị”, các nhà thơ lớp sau khó long bắt chước được. Đến Đỗ Phủ cũng phải than phục “Bạch dã thi vô địch”, vô địch ở số lượng hơn hai mươi nghìn bài, vô địch ở chất lượng như lời Bì Nhật Hưu thời vãn Đường: “Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến nay, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, lường rồi thì long ôm bốn bể, lỗi lạc dị thường, không phải là lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch”.

Lê Nguyễn Lưu
(Tóm lược từ Đường thi nhất thiên thủ)
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
33.00
Chia sẻ trên Facebook