初出金門尋王侍御不遇詠壁上鸚鵡

落羽辭金殿,
孤鳴吒繡衣。
能言終見棄,
還向隴西飛。

 

Sơ xuất Kim Môn tầm Vương thị ngự bất ngộ, vịnh bích thượng anh vũ

Lạc vũ từ kim điện,
Cô minh tra tú y.
Năng ngôn chung kiến khí,
Hoàn hướng Lũng Tây phi.

 

Dịch nghĩa

Lông xơ xác giã từ điện vàng,
Cô đơn kêu rên trong bộ áo thêu.
Có tài nói tiếng người nhưng rốt cuộc thấy bị ruồng bỏ,
Chỉ còn nước bay về Lũng Tây.


Kim Môn là một cửa trong kinh thành Trường An, ngụ ý cung đình. Khoảng năm 742, tác giả được Hạ Chi Chương đang giữ chức Thái tử tán khách tiến cử lên vua Huyền Tông, vua mến tài cho giữ chức Hàn lâm cung phụng nhưng chờ hoài không được thăng chức, lại tính tình phóng khoáng không chịu nổi cuộc sống gò bó chốn cung đình, ông xin từ chức và được vua chuẩn thuận.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Lông xơ xác giã từ điện ngọc
Thân cô đơn kêu khóc áo thêu
Có tài rốt cuộc cũng tiêu
Lũng Tây bay thẳng phiêu diêu sông hồ

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Lông xơ xác giã điện vàng,
Kêu rên trong bộ áo tràng hoa tươi.
Bỏ rơi dù nói tiếng người,
Chỉ còn nước phải di dời Lũng Tây.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời