Bình sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác nhiều thơ nhưng đa số bị thất lạc. Người đời sau là Vũ Khâm Lân (người làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1727), đã sưu tầm và biên thành sách này. Trong bài Vân Am phả ký, Vũ Khâm Lân có nói rõ “Ông làm rất nhiều thơ phú quốc ngữ, biên soạn ra Bạch Vân thi tập, được hơn ngàn bài thơ, nay còn truyền ở đời chỉ có 100 bài”. Trước đây, trên Nam Phong tạp chí và sách Văn đàn bảo giám đã phiên âm giới thiệu một số bài. Năm 1939, Sở Cuồng Lê Dư có phiên âm chú giải giới thiệu 100 bài. Năm 1957, Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà viết sách Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý có phụ lục giới thiệu thơ Nôm. Năm 1974, Nguyễn Quân có soạn thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập in ở Sài Gòn. Năm 1983, nhóm Đinh Gia Khánh, Hồ Như Sơn, Bùi Duy Tân soạn thảo cuốn Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, giới thiệu 161 bài. Năm 1997, tập này được tái bản. Năm 1987 Bùi Văn Nguyên phiên âm sách Bạch Vân quốc ngữ thi, giới thiệu 177 bài.
Hiện ở Thư viện Hán Nôm còn giữ được ba văn bản mang tên là Bạch Vân thi tập, Trình quốc công Bạch Vân thi tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập:
- Bản Bạch Vân thi tập (AB.157) 44 trang, loại sách do Trường Viễn Đông bác cổ trước đây thuê chép, trang đầu ghi “Bạch vân thi tập, dùng thể thơ trường đoạn quốc âm, gồm 100 bài, do Tiến sĩ đệ nhất giáp đệ nhất danh Ất Mùi niên hiệu Đại Chính thứ 6 nhà Mạc (1535) là Trình quốc công biên soạn”.
- Bản Trình quốc công Bạch Vân thi tập (AB.309) 98 trang, trang đầu ghi “Tiến sĩ đệ nhất giáp đệ nhất danh khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính nhà Mạc là Trình quốc công biên soạn Bạch Vân thi tập, gồm 100 bài, dùng thể thơ trường đoạn quốc âm”.
- Bản Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập (AB.635), chữ viết khá thảo, rách nát, số trang nhầm lẫn do bồi vá và sửa chữa, trang đầu chép “Thuở ông còn nhỏ, có viên quan huyện ở đó đi chơi, gặp ông bèn ra câu đối rằng: sáu bảy đứa trẻ, chẳng đứa nào khá bằng mày. Ông liền ứng khẩu đối ngay: hai ngàn hộc lương (ý nói, vị quan hưởng lương hai ngàn hộc lúa một tháng) không ông nào tham như ông (sau đổi chữ “tham” thành chữ “liêm”). Khi lớn lên, nổi tiếng danh vọng, từng ra làm quan, rồi lui về ở ẩn, ông biên soạn tập Bạch Vân am thi tập, gồm 100 bài, dùng thể thơ trường đoạn quốc âm.” Mặc dù vậy, sau 100 bài giống hai sách trước, sách này lại có thêm các phần Trình trạng nguyên hựu thi nhất thủ (2 bài), Trình công ngâm thi (51 bài không có đề), một phần thơ có đầu đề gồm 21 bài trùng với thơ trong Sô Nghiêu đối thoại, và một số thơ văn của tác giả khác.
Với 100 bài trùng Cả ba bản đều thống nhất với nhau là chép liền một mạch từ bài 1 đến bài 100, không bài nào có tên. Thứ tự từng bài cũng giống nhau gần như hoàn toàn. Thứ tự các bài ở bản AB.157 và AB.309 trùng khớp với nhau. Bản AB.635 so với hai bản kia cũng tương tự ở 100 bài đầu tiên, chỉ có ba trường hợp hợp đổi vị trí.
Trong 100 bài vô đề cũng có rất nhiều bài trùng với thơ được chép trong Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) hay Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông). Trong nhóm này, ngoài số thứ tự bài, một số bài chúng tôi bổ sung thêm tiêu đề từ các sách có thơ trùng đã nêu, và tiêu đề của một số bài do người đời sau gọi để tiện tham chiếu.
Bình sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác nhiều thơ nhưng đa số bị thất lạc. Người đời sau là Vũ Khâm Lân (người làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1727), đã sưu tầm và biên thành sách này. Trong bài Vân Am phả ký, Vũ Khâm Lân có nói rõ “Ông làm rất nhiều thơ phú quốc ngữ, biên soạn ra Bạch Vân thi tập, được hơn ngàn bài thơ, nay còn truyền ở đời chỉ có 100 bài”. Trước đây, trên Nam Phong tạp chí và sách Văn đàn bảo giám đã phiên âm giới thiệu một số bài. Năm 1939, Sở Cuồng Lê Dư có phiên âm chú giải giới thiệu 100 bài. Năm 1957, Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà viết sách Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý có phụ lục giới thiệu thơ Nôm. Năm 1974, Nguyễn Quân có soạn thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập in ở Sài Gòn. Năm 1983, nhóm Đinh Gia Khánh,…
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.