Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 12:52
1. Hiên mai hây hẩy đông phong,
Hương đầm áo thuý, hoa lồng trướng thanh.
Nước non trời vẽ nên tranh,
Ngư tiều cảnh lạ, mục canh thú mầu.
Hứng vui trời đất một bầu,
Thanh nhàn tựa mái tây lâu gióng cầm.
Khề khà mấy chén thưởng tâm,
Chạnh niềm khẽ tưởng tri âm khéo là.
Bắc, Nam đôi ngả đôi nhà,
10. Nền trâm hốt, nếp hào hoa dõi thường.
Kinh luân thao lược hai đường,
Đỉnh Từ chở sáng, bể Xương góp tài.
Nghiệp nhà văn võ theo đòi,
Phạm vây hổ trướng, Trương dồi lân kinh.
Chí trai nghiên bút học hành,
Vờn tranh kiếm mã, đậm hình quan thân.
Cùng nhau sàng tịch mấy xuân,
Chữ tình sáng tỏ, chữ nhân tháp đầy.
Vườn đào chén cúc dang tay,
20. Thề lòng ấy với cao đầy dưới trên.
Rằng ta cùng bạn thiếu niên,
Cùng lòng vàng đá, cùng nguyền keo sơn.
Muốn cho vẹn nghĩa kim lan,
Quạt, trâm phải định Trần, Phan một lời.
Châu sơ, Kim kính đôi người,
Sơ nguyền kết phát, kính soi chung tình.
Kim, Châu hai chữ mệnh danh,
Phạm trao gương nghĩa, Trương dành lược nhân.
Đã thân mà lại thêm thân,
30. Tai thần nghe khắp, mắt thần thấy xa.
Tuất niên vừa hội cao khoa,
Liếc sương cung kiếm, rảy hoa chương hàn.
Đất bằng một tiếng sấm ran,
Bảng hùm tỏ Phạm, tháp nhàn diễn Trương.
Đều vào bái mạng điện vàng,
Chiếu ban vinh tiến, cờ trương hiển hồi.
Loan linh tiếng dậy hoè nhai,
Đường thông rợp bóng, đội mai chen hàng.
Chèo hoa, buồm quế thẳng làn,
40. Trời in biếc nhuộm, nước rờn chàm pha.
Người đón liễu, kẻ đưa hoa,
Khúc đàn gió cuốn, tiếng ca mây vần.
Phạm, Trương gắng sức trung cần,
Mải bề định loạn, chăm phần yên bang.
Ty Hiệu Điểm, tỉnh Bình Chương,
Tường sân kinh tế, cột rường trung trinh.
Khổn ngoài che chống miếu đình,
Xuân doanh đốc thị, Nông thành trưởng chi.
Điềm lành sao phúc một thi,
50. Đôi bên đồng chí, một kỳ đồng khoa.
Chỉn hiềm một ước thông gia,
Ngán thay con tạo khéo là trêu duyên.
Thềm Trương lan huệ nở chen,
Sắt cầm đã biết mấy phen hài hoà.
Phạm đường cũng mộng huỹ xà,
Năm ba thơ ngợi đào hoa nghi kỳ.
Muộn màng thay giấc hùng bi,
Tinh thành ắt cũng có khi cảm thần.
Sửa sang một cuộc âm phần,
60. Hàm thư đan phượng lắm phần tinh hoa.
Minh đường chung tú thay là,
Án Thai Sơn trấn, chẩm Sa Thuỷ chiền.
Hai bên tốn bút tốn nghiên,
Huyệt hình, hướng pháp hợp bên văn hình.
Ba năm kết phát củng sinh,
Cẩm đường rạng vẻ khôi tinh một người.
Phong tư mới thật khác vời,
Khổ người tuấn tú, bẩm trời thanh quang.
Tử vi xem mới lạ dường,
70. Lộc, Quyền chiếu mệnh; Khúc, Xương giáp trì.
Âm, Dương lưỡng điệu còn ghê,
Việt, Khôi, Tử, Phủ đóng về thân cung.
Còn e Dương, Kiếp, Đà, Không,
Nửa trong vẫn chửa khỏi vòng truân chiên.
Chữ Kim lại lấy đặt tên,
Phạm công mừng đã phỉ nguyền kính sơ.
Nâng niu vàng ngọc sớm trưa,
Thoi oanh thấm thoắt đà đưa trưởng tuần.
Lắm le giật giải thanh vân,
80. Trèo trăng bẻ quế, gọi xuân mở đường.
Bóng kim đã thoáng trong gương,
Lược đâu sao hãy chưa tường người châu.
Hững hờ con tạo hay đâu,
Làm ra bãi bể nương dâu khéo là.
Mã đầu xảy động can qua,
Tro bay cửa tía, cát pha sàn vàng.
Phạm công nặng sức cần vương,
Giang sơn một gánh, cương thường hai vai.
Khôn toan thay đổi cuộc đời,
90. Lòng trời là thế, dễ người cho xong.
Sương đỉnh Dĩ, tuyết ngàn thông,
Sao chòm Bắc cực, mây lồng Nam tinh.
Kim lang ngao ngán gia tình,
Huỳnh loà soi oán, dế quanh gảy sầu.
Gió ngô trăng hạnh đêm thâu,
Địch đâu thổi sớm, chuông đâu nện chiều.
Giọng buồn điệu thảm dập dìu,
Chim năn nỉ giọng, ve hiu hắt tình.
Nghĩ mình thêm giận chí mình,
100. Cũng toan ra mặt tỏ danh anh tài.
Những thì cũng lúc vân lôi,
Hảo tam truân ấy hãy nuôi chí bền.
Căm gan tóc cũng dựng lên,
Tuốt gươm chém án ngâm thiên ca rằng:
Làm trai cho thoả chí trai,
Trong trần ai chớ luỵ ai tầm thường.
Bốn phương hồ thỉ dậy vang,
Nhảy tầng đào lãng, bắc thang vân cù.
Tu mi tỏ mặt trượng phu,
110. Đem trung hiếu để trả thù non sông.
Anh hùng ấy mới anh hùng,
Thâu nhàn há sá học đồng thiếu niên.
Hương quan từ ấy khuây niềm,
Việc gia đường mặc anh em giữ giàng.
Sắm sanh thơ, rượu, cờ, đàn,
Nhanh trai thằng trẻ, nhẹ nhàng gánh thanh.
Nước non mới thú hữu tình,
Rũ cô Thường hiệu, gọi anh Đông hoàng.
Nàng thanh nữ, ả hồng nhan,
120. Dâng hoa ngũ cúng, rót thang thiên trù.
Trải qua Dục Thuý, Thần Phù,
Kìa cung Giáng Hạc, nọ chùa Ngự Loan.
Sáng Bích Động, tối Trường An,
Có đền Nhị Đế, có hang Cửu Tằng.
Lên Kỳ Lão xuống dần dần,
Nghe đồn Hương Tích lắm phần thanh tao.
Ăn chơi sĩ nữ xôn xao,
Kẻ ra sơn động, người vào thuỷ cung.
Chùa Cầu tìm mới não nùng,
130. Sư dịu dàng giọng, tiểu phong phanh hình.
Già lam xen vẻ thị thành,
Phong quang có một, cảnh tình không hai.
Tử sầm thú vị tuyệt vời,
Dưới cung Vương ngự, trên đài vô vi.
Xuân thu bao nả nữ ni,
Khen rằng trẻ cũng từ bi lọ già.
Sài Sơn tựa áng phồn hoa,
Sư huynh chải chuốt, vãi già dong đưa.
Ra vào tiểu gái lẳng lơ,
140. Long lanh mắt liếc, say sưa miệng cười.
Sư tiên đủng đỉnh lạ đời,
Xe thêu kim tuyến, áo dài khói hương.
Hoa sen da lợn lót gương,
Gậy mun bạc bít, mũ vàng gấm căng.
Bồ đoàn cạp góc lục lăng,
Mơ màng tràng hạt, nát lừng cà sa.
Chùa Phật Tích mới gọi là,
Kẻ kinh khổ điệu, người tha thiết chiều.
Tiểu tăng lắm vẻ mỹ miều,
150. Bẻ bai chiều lịch, dập dìu dạng thanh.
Ối nao ôi! khổ tu hành,
Biết Tây phương có dáng hình nầy không.
Tu cho vẹn kiếp trần hồng,
Kẻo già nữa trách nào lòng từ bi.
Hoa tàn nước chảy một khi,
Bấy giờ chưa hẳn lại thì này đâu!
Lên Hùng Vương rất non cao,
Mấy đường ngóc ngách, mấy cầu chông chênh.
Người cung nữ tuổi xuân xanh,
160. Đem thân bồ liễu đổi cành đàn na.
Sang Quỳnh Lâm cũng xa xa,
Năm năm công việc, ba toà phạm cung.
Vào Yên Tử rất non cùng,
Đàn xô nước suối, phách giong cây rừng.
Mặt trăng thượng điện ngất chừng,
Cây lồng tán rợp, hoa lừng hương xông.
Dần dà ra tới Thành Công,
Cây ngang Kinh chủ bên dòng nước tuôn.
Đá sực sực, nước cồn cồn,
170. Chông chênh cửa động, chọn von mái chùa.
Tu hành đã có sư cô,
Dễ đem nghìn nén mà mua tiếng cười.
Quý Canh phỏng độ đôi mươi,
Chẳng trang tử thất cũng người hồng lâu.
Xem chiều lịch sự đủ màu,
Hẳn chê trần giới rắp chầu Tĩnh phương.
Nam vô có thấu chăng chường,
Chẳng cho thành Phật thì nhường để ai?
Thôi đường bộ lại ra khơi,
180. Thuyền loan chèo quế thảnh thơi giang hà.
Lá buồm hây hẩy gió hoà,
Vân hà phẳng lặng, thuỷ ba chờn vờn.
Thuỷ đường xem đã băng ngàn,
Qua Đồ Sơn thẳng đè làn Hoa Phong.
Tới nơi ác ngậm non hồng,
Thuyền câu chống mái, buồm giong ca về.
Đùn đùn khói núi phủ che,
Kẻ đem rượu đổi, người kề gạo mua.
Vạn ninh trong thấy lù mù,
190. Nửa ta pha phách, nửa Ngô tơi bời.
Tàu bè mành đã chen vai,
Sẵn sàng mọi vật nước ngoài, cõi trong.
Trải qua khắp hết non sông,
Đến đâu cảnh trí ấy vùng phong lưu.
Cầm vui thú, hoạ say màu,
Mười bài thơ Lã, một bầu rượu Tô.
Có người nhàn tựa cô chu,
Nghĩ tình cũng khách giang hồ qua chơi.
Khách rằng: “Trộm biết tiếng người,
200. Những mong khuya sớm tới vời thăm lênh.”
Chàng rằng: “Nặng đội lòng anh,
Trước sau xin ngỏ tâm tình trình qua:
Tôi đà lánh chốn quyền gia,
Thảo hoa ấy bạn, yên hà ấy quen.
Phong quang mấy thú lâm tuyền,
Kết duyên vốn cũ, đính nguyền ấy lâu.”
Khách rằng: “Vâng biết lòng hầu,
Công danh yên phận, khổ chiều mặc khi.
Tình đà vui thú giang khê,
210. Gần đây có chốn thanh kỳ rất vui.
Một vùng cảnh Phật bầu trời,
Nước vờn sắc biếc, non vùi cỏ xanh.
Điện đài chùa quán cũng thanh,
Kẻ ganh quần áo, người tranh ngựa dù.
Mán, Lào, Nùng, Mọi, Mường, Ngô,
Líu lo giọng Thổ, xi xô tiếng Mường.
Có miền gọi Thuý Hoa đường,
Trời thêu thức ngọc, xuân trong màu hồng.
Hải đường, thược dược, phù dung,
220. Hạ sen, thu cúc, đông tùng, xuân lan.
Thị thành sở thú dưỡng nhàn,
Chim cành gióng nhạc, gà ngàn gáy canh.”
Chàng nghe khách nói hữu tình,
Ngụ nhàn hứng bút rành rành mấy câu:
Sẵn có giang sơn vốn thú mầu,Ca thôi trò chuyện giờ lâu,
Mặc ai thành thị, mặc công hầu.
Sớm Ngô tối Sở dầu vui vậy,
Rày Tấn mai Tần dễ biết đâu.
Oanh yến véo von gọi khách,May thay một hội tương kỳ,
450. Cỏ hoa hớn hở mừng ai.
Gió xuân hây hẩy giục đưa người,
Dễ khiến lòng thơ bối rối.
Thấp thoáng thoi oanh dệt liễu,
Thung thăng phấn bướm dồi mai.
Vũ Lăng xa diễn biết bao vời!
Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá!
Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá!
Dòng ngự câu gieo lá tình thi.
Rủi hoa run lá bởi duyên trời,Xin cho tỏ nỗi niềm ai,
Nghĩ đến duyên do cũng nực cười.
Bắc Yến nam Hồng, tình một bức,
Đông đào tây liễu, khách đôi nơi.
Lửa ân dập mãi sao không tắt?
Bể ái khơi hoài cũng chẳng vơi.
Đèn nguyệt ví bằng mây chẳng bợn,
480. Xin soi cho tỏ nỗi niềm ai.
Khổn hoa từ mảng phong thanh,Yến đồng lãnh lấy hoa tiên,
Nức hương kinh các, nổi danh tao đàn.
Trong tình trường, thư hồng mấy kẻ,
Chốn phòng hương lắm vẻ phong quang.
Nguyện lòng này với lửa hương,
Rạng bình xạ tước, nức giường thừa long.
Xuân đài mặc đông phong liệu lượng,
490. Nhắc câu tình cho đúng đồng cân.
Thư này gởi với giai nhân,
Đem phong nguyệt góp cõi trần làm duyên.
Im ỉm màn màn sương đợi khách,Lá thơ đề, ân cần mấy chữ,
Thênh thênh cửa nguyệt chờ ai.
Giai nhân tài tử mấy lăm người,
Trạnh tưởng tâm tình thêm rối.
Phơi phới gió lay chồi liễu,
Phau phau tuyết điểm cành mai.
Non cao chất ngất, bể xa vời,
Ai biết Bồng Doanh chăng tá!
Ai biết Bồng Doanh chăng tá!
520. Uẩy thuyền đâu chiếc lá xa xa.
Lầu cao ghé mắt trông ra,
Ấy là Lưu tử hay là Từ lang?
Nhủ đông hoàng mặc lòng khu xử,
Chớ đem xuân suồng sã trần gian.
Vin xe dưới nguyệt hỏi han,
Rằng ông Nguyệt hỡi, trong nang có gì?
Dắt mối đưa duyên cũng bởi trời,Chớ trăng hoa nữa bẽ người,
Vì ai run rủi nghĩ như cười.
Dặn dò lá thắm còn in đấy,
Gần bó thư vàng đã có nơi.
Nhắc gánh nhân duyên dường chửa nặng,
540. Dò nguồn ân ái hãy còn vơi.
Miễn rằng vàng đá lòng như một,
Chớ thói trăng hoa nữa bẽ người.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.