Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Ngán nhẽ tụng Tây hồ;
Ngán nhẽ tụng Tây hồ!

Vốn trước đã lở hầm toang hoác vũng;
Có lẽ đâu mọc đá nhấp nhô gò?

Người rằng nơi Long tử khoét làm vũng, bởi được bùa quái chú Huyền trao, vậy cáo trắng hách hơi vào đại trạch,
Kẻ bảo ấy Cao vương đào chặn mạch, vì mảng tiếng chuông thầy Khổng nện, nên trâu vàng theo dấu đến trung đô.

Bốn mặt chứa châu cung, kim điện;
Một doành thâu băng chử, ngọc hồ.

Bãi Dâm Đàm gió thét trận Trưng Vương, khi chướng vụ khua ran đầu lính ngất;
Lãng Bạc tuyết tan đồn Bắc tướng, đàn lộ âu tắm lẩn bóng trăng nhò.

Có thu nguyệt mới nước trời in sắc;
Chửa xuân thiên sao hoa cỏ theo mùa?

Cát xô lên mỏ phượng lù sù, hình thu nữ thẹn lên lầu nguyệt kính;
Nước chảy xuống hàm rồng róc rách, dáng xâu lang rót lại chén đồ tô.

Toà thạch tháp đã tan bình xá lị;
Đống thổ đôi đà nát dấu linh phù.

Lưới Mục lang âu nát mất cả giềng, gian chẳng bắt, nữa hoài công bắt hổ;
Gươm Trấn Võ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam mà cố sức giam rùa.

Thiên niên nếu được lâu, sao quán nát;
Vạn bảo nào có báu, để ghềnh nhô.

Ngắm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh xe vóc, chị mũ vàng, đảnh đảnh thế, ở làm trò Phạm Vũ;
Xem đồng quan dở dang chiều lý thú, đứa dải đào, thằng khăn thắm, láo lức thay, chạy đến quấy Nghi Vu.

Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu;
Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.

Nhà tranh đua đều khấn bụt cầu ma, đường Quan thánh khéo lăng nhăng lít nhít;
Chợ xao xác những buôn hùm bán quỷ, mái Trương Lương nghe lếu láo y o.

Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt;
Sóng cánh hàn xô sườn đá ồ ồ.

Bãi Đuôi nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hồn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái chạy ra cho chóng;
Hồ cổ ngựa thối hoăng mùi đại tiểu, hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân tranh nát đã như vò.

Yên công tử ắt đà long cổ nối;
Mộc vũ thần âu hẳn gẫy ta co.

Thoi oanh dầu dệt liễu nên tơ, cửa nam khó xỏ kim thêu túi;
Đèn đóm dẫu soi sen thấy lửa, quân Tây khôn hút điếu hun lò.

Quyên oán hạ thiên đà khắc khoải;
Ve hờn nam địa mới rì rù.

Chùa Châu long hương cúng khét mù, nghe mõ cá đã rúc vang cầu Trúc;
Hồ Bạch mã sen bay mất cả, làm giấy hoa đem bán dải sông Tô.

Ngắm cảnh trí cũng mảng vui mấy thú;
Xem phong quang nào có vẻ một khu.

Cái cô đình cho gió lọt hoa kề, lơ thơ cảnh đượm màu sương, đường tạo hoá đã in chân thuý bích;
Con tiểu đĩnh đã mây che nước chở, lóng lánh sóng in sắc nguyệt, ngỡ khuôn trời còn đúc bạc đào châu.

Góp cảnh vật đủ tháng ngày cũng hó;
Lấy cỏ hoa làm bầu bạn mà no.

Cành dưới trên sương hãy nhuộm màu xanh, ca ngư tử đã xua tan vầng ngọc thỏ;
Cây ngang dọch tuyết vừa đông bãi bạc, địch mụch nhi đã thổi sáng bóng kim ô.

Truyện Tần Hán kẻ kia cười lả lướt;
Giấc Hi Hoàng người nọ ngáy phi pho.

Cuộc doanh thâu bàn bạc bắc nam chơi, khúc lưu thuỷ gảy vài cung réo rắt;
thơ thanh nhã đề ngâm phong nguyệt mới, rượu càn khôn rót mấy chén thơm tho.

Vuông đất tròn trời, thu về chặt túi;
Ngang sông dọc núi, chở lại đầy kho.

Hóng thanh phong nằm khểnh tót Tam sơn, phơi bụng trí để đãi đoàn ong kiến;
Chở minh nguyệt tếch về ngay Nhị thuỷ, gương mắt thần mà ngắm thế trai cò.

Bấy nhiêu đã lấy chi làm thắng khải;
Còn những đâu mà dám nói nhàn ngu?

Cao minh chi mà biết phép quan ngư, nào có phải Ba La cổ sắt;
Tài cán ấy khó làm mưu dụ tượng, dễ mà như Hư Tĩnh thư phù.

Đường ngoạn thưởng lờ mờ móng ngựa;
Cung du quan mù mịt bòng dù.

Đồ ăn thức mặc, ngán nỗi phố phường, xem phong vị khó như đời đại hữu;
Kẻ ám người gian, gớm thay quân tướng, ngẫm minh lương nào phải đạo trung phu.

Chữ lối cua bò, lằng nhằng thư thảo;
Thơ ròng chó chạy, láo nháo xướng thù.

Nhạc tiêu thiều còn lõm bõm khúc xưa, tiếng thanh điểu gọi người đi kẻ lại;
Sắc chương phủ hãy lờ mờ dấu cũ, ngọn kim phong lay lá rụng chồi khô.

Con túc vụ mờ mờ về lĩnh quạnh;
Cái cô hồng thăm thẳm tếch sương mù.

Chốn thi đình ve giục mới hè sang bốn vách in sầu thơ bạch nhạn;
Mái cầm viện dế kêu liền thu đến, vài gian kết thảm lưới thanh thù.

Đàn dế rúc sương, cung ánh ỏi;
Lửa huỳnh đưa gió, bóng tù mù.

Cát xô lên mặt nước trắng phau phau, nghĩ ấy thầy Tân đem hạc múa;
Trăng lạnh xuống đáy hồ trong vằng vặc, tưởng rằng ông Lý cưỡi kình mò.

Khóc khí vận tối căm con đỗ vũ;
Kêu cơ hoang sớm tủi cái hà mô.

Quyên thét lâu thì luống để hờn lâu, bên cầu vồng nghe nhịp trống khua trăng, vì Nam tướng phải căm lòng Bắc sĩ;
Ếch kêu mãi lại càng thêm oán mãi, trên thành trì lắng ngọn còi huýt gió, bởi Tây triều mà ghét chí Đông phu.

Than với đất cả đoàn ong lũ kiến;
Thở cùng trời từ cái cốc đàn cò.

Thưởng nghiên trà cho cá lội hạc bay, khi hứng vịnh nguyệt dòm quanh bóng quế;
Nhớ thuần lư sẵn ngòi sâu nước rộng, buổi quy lai gió thổi rụng cành ngô.

Kẻ cao sĩ ắt nhiều nơi trực bút;
Đứa tiểu nhân âu lắm lúc hàm hồ.

Phường Khán sơn hoa kết võng vừa rồi, đoàn kỹ nữ bẻ bai hình đến phố;
Chợ Võng thị rượu nồng hương mới chín, lỹ tuý ông tất tưởi dáng sang đò.

Khói viễn thôn khi ngọn gió ra vào, trông thấp thoáng ngỡ nhà ma cửa lấp;
Trông cổ quán lúc tấm mây cuốn mở, thấy xa xa dường núi ngất cây rù.

Chim bay nhảy đầu non vì vụt;
Cá xuống lên mặt nước thập thò.

Cảnh vưa khi quân tướng những ta xưa, thú cỏ hoa thì ai cũng chiều chơi, nào ngờ tuyết lạnh sương tan, lòng dạ ấy phải biết cho người với;
Người đến buổi quan hà về kẻ khác, thù non sống nghĩ mình chưa trả được, dẫu có trăng trong gió mát, mặt mũi nào mà vui với cảnh ru!

Quảy cả văn chương hòn đất lấp;
Chảy băng danh vọng khúc sông nhô.

Quỷ dạ xoa quấy bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não;
Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng được tô nhu.

Cơn binh lửa trải mấy tao dời đổi;
Buổi phong trần thêm mấy dịp tranh đua.

Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên đạo cũng vui thay cảnh thú;
Cuộc Nam Bắc được chăng dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù!

Đường vinh nhục nọ dòng nước chảy;
Áng lợi danh kìa đá lửa khua.

Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi, kẻ tráng sĩ làm thinh đi chẳng dứt;
Vạc quốc bảo khách còn dang cánh kéo, đứa nhâm nhân gắng sức lại mà hò.

Du hồ dễ mấy ai Phạm Lãi;
Phù hải âu chẳng một Tử Do.

Cửa âm dương khép mở sớm khuya liền, cơ huyền diệu khó lường sinh với tử;
Xe nhật nguyệt dẩy dun xuôi ngược mãi, kiếp phù hư khôn tính hữu hay vô.

Vầng trăng nọ tròn rồi lại khuyết;
Bình nước kia đấy lắm có khi rò.

Nhớ khi thanh dạ tần trăng, sen thoang thoảng đưa phong trà ướp mộc;
Tưởng buổi đoan dương quạt gió, lửa bừng bừng đun ấm rượu ngâm bồ.

Thanh cung khi hạ tới nắng đương nồng, nhồi phấn phun hương, so thanh lãnh với đông kia chẳng kém;
Lãng uyển buổi thu tàn hoa chửa rã, thêu hồng kết lục, vi phân phương cùng xuân ấy không thua.

Thủa ngự du đưa đĩnh phượng thuyền rồng, thẻ thanh hồng hoa cắm chặt áo tiên, thu được cả vương hầu khanh tướng;
Khi tứ yến bầy đàn loan quân phượng, khúc vũ nghê gió thổi lên cung nguyệt, vui mừng đều thành thị hải ngu.

Nông nỗi ấy kể càng thêm thảm nhỉ;
Cơn cớ này ai hầu dễ biết cho.

Đến nay:
Tan tành phong cảnh;
Nát bét quy mô!

Cơn thảo muội những gặp điều biến cải;
Lúc phong trần khôn thấy hội đô du.

Nhận cố cung phai nhạt màu xưa, tới mộc thạch cũng đeo sầu tiêu xác;
Xem hồ thuỷ thẹn cùng sắc nước, đến cỏ hoa đều ê ủ phân phu.

Thấy địa trận lắm nơi xoay gió lốc;
Xem thiên văn đương lúc thẳng sao rua.

Thuở bát chuyên độn lại thêm phiền, Canh Thân ấy ắt còn bền tựa đá;
Quẻ lục hợp bói ra cũng phải, Nhâm Tuất kia âu hẳn nát như tro.

Vận hội ấy nghĩ cũng đà nên biến;
Công lao kia xem chứa chút nào bù.

Nếu ra tay thì núi lở sông reo, thề chí ấy để vững ngôi nhân thế;
Hễ chớp mắt hẳn trời xoay đất chuyển, quyết gan này đem lại đứng thiên khu.

Có trung nghĩa hẳn không cùng lưỡng lập;
Để tinh thần cho thấu đến cửu u.

Rửa quan hà sạch dấu tanh hôi, vạn vũ được nhờ ca hữu tượng;
Quét thành thi hết loài gai góc, bốn phương đều đội đức vô ngu.

Bởi con Tạo có tơ gây lắm mối;
Vậy thợ Trời không thắm nhuộm nên ngù.

Kèn Thọ Xương đưa khách bắc nam về, thổi vu ký vu quy hồ hi hí;
Văn Quảng Bá viếng người khanh tướng chết, khó vô cô vô cố vi ô hô!

Kèn thổi thế dễ ai đua ngón được;
Văn khóc kia mấy kẻ đặt lời so.

Nghĩ thời cơ mà thêm cám cảnh thay, thử liếc mắt ngắm cùng con âu lộ;
Ngắm thế sự mới cùng ngao ngán nhẽ, sẽ rỉ tai bàn với lũ mục sô.

Rằng thiện ác vì ai dùi đứt lưới;
Hỏi thịnh suy nào kẻ đạp toang lò.

Vận hoang niên nào có ít tử hung, được vui thoả hẳn quên câu oán nhạn;
Người loạn thế biết bao nhiêu cơ cận, lúc no say đà gợi khúc ca phù.

Máy trời đất chẳng khác chi bàn rối;
Vòng cổ kim xem tựa giống đèn cù.

Chính sự này đừng nói với ta chi, nỏ kim quy để nhằm con quái thỏ;
Văn chương ấy chớ khoe cùng tớ nữa, cung mộc tinh dành bắn cái yêu hồ.

Gẫm nhân sự biết rằng cơ trị loạn;
Xem hồ quang đã không dấu thanh du.

Con lộc kia nào có phép toàn đâu, ông ngồi mã thượng hãy rình theo, còn quen thói nịnh tà mà chỉ lộc;
Khóm do nọ hẳn đến ngày thì cắt, kẻ muốn tình chung mà rửa sạch, bỗng buông tuồng gian ác lại sùng do.

Đá khiết bạch khó mài mầu xiểm nịnh;
Nước thanh quang khôn lọt vết tham ô.

Quốc đã nguy mà tướng lại không tài, phép đâu biết rằng cơ trị loạn;
Quân thì ám vả thần du chỉ nịnh, lẽ nào hay đến chốn điều trù.

Nẻo tiên cũng khó tìm nơi hoá;
Dấu phật du khôn xuống đấy tu.

Võ sự xem ra khổ man di, thẳng bước tới đứa chen vào, chiến trận thế cũng cờ giong trống giục;
Đạo học ngẫm chẳng theo hiền thánh, kẻ bày lời người thưa dịch, thi cử gì mà cửa lệch sân xô.

Khí tượng ấycũng chưa vương được nhỏ;
Anh uy này toan lại đế cho to.

Đây nay:
Chơi thì đã trải;
Ở cũng không thô.

Nghĩ cước sợ lây hơi chung đỉnh;
Nên mình còn nhẫn dấu phần du.

Giận vì thằng sao nỡ đặt “Tụng Hồ”, bênh nguỵ tặc bỏ ơn đời đế thế;
Cho nên đây phải hoạ vần “Chiến tụng”, nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ.


Bài phú này được làm vào năm 1802. Phạm Thái đến chơi nhà bạn ở kinh đô, nghe đọc bài Tụng Tây hồ phú, hỏi ra là do Chương Lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng sáng tác. Lượng vốn là tôi nhà Lê, sau làm quan với Tây Sơn, viết bài Tụng Tây hồ phú để ca ngợi vua Quang Trung. Phạm nhân đó hoạ lại bằng bài này để bày tỏ lòng trung của mình với nhà Lê.

Hồ Tây ( 21.052,105.825): Hồ Tây trước đây còn được gọi là hồ Lãng Bạc, hồ Kim Ngưu, đầm Xác Cáo, Dâm Đàm, là hồ lớn nhất thuộc Hà Nội ngày nay. Hồ xưa vốn là một phần của sông Hồng, còn lại sau khi sông thay đổi dòng chảy. Theo Tây Hồ chí ghi rằng, Hồ Tây có từ thời Hùng Vương. Khi đó đây là một bến nằm giáp sông Hồng thuộc động Lâm Ấp, nên được gọi là bến Lâm Ấp thuộc thôn Long Đỗ. Thời Hai Bà Trưng, bến này ăn thông với sông Hồng, bao bọc quanh hồ là rừng cây gồm nhiều loại thực vật chính như tre ngà, bàng, lim, lau sậy, gỗ tầm... cùng một số loài thú. Ngoài ra, xung quanh bờ hồ còn có các hang động vừa và nhỏ, bờ phía tây có Già La động (nay là Quán La thuộc phường Xuân La), bờ phía đông có Nha Lâm động (nay là phố Yên Ninh, Hoè Nhai), bờ phía nam có Bình Sa động (thời Lý đổi là Giáp Cơ xá nay thuộc quận Hoàn Kiếm).

Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thuý Hoa và Từ Hoa thời Lý, nay là khu chùa Trấn Quốc. Tương truyền, chùa Kim Liên được dựng trên nền cung điện của công chúa Từ Hoa là con vua Lý Thần Tông. Để phát triển cơ sở tầm tang, Từ Hoa đã mang các cung nữ ra khu vực Hồ Tây khai hoang, lập ấp và dựng nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa cho họ. Trại Nghi Tàm là một điền trang lớn quán xuyến việc này. Bên cạnh Hồ Tây ngày nay còn có hồ Trúc Bạch, trước vốn cũng là một phần của Hồ Tây nhưng được dân đắp đê Cố Ngự ngăn ra để tiện đánh bắt cá, ngày nay trở thành đường Thanh Niên.

Hồ Tây gắn với nhiều sự tích và truyền thuyết, khiến hồ cũng từng có nhiều tên gọi khác nhau. Theo Lĩnh Nam chích quái (1492), ở phía tây thành Long Biên có núi đá nhỏ, có con Hồ Tinh (yêu quái cáo) chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể biến hoá vạn trạng, khi thành người khi thành quỷ ở khắp dân gian. Long Quân bèn ra lệnh cho sáu đạo quân của thuỷ phủ dâng nước lên công phá bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu. Hồ Tây chính là hang con cáo chín đuôi phá hoại dân lành, bị Long Quân dâng nước lên công phá. Do đó, hồ có tên là đầm Xác Cáo. Xưa ở quanh hồ có các làng đặt tên theo truyền thuyết này như Hồ Đỗng (hang cáo), Làng Cáo (nay là Xuân Tảo), Hồ Thôn (thôn cáo, nay là Hồ Khẩu). Ngày nay, ven hồ có đường Lạc Long Quân và Âu Cơ cũng là để nhắc tới tích này. Một số sách khác lại chép vị thánh trừ con cáo chín đuôi là Huyền Thiên Trấn Vũ, nên được thờ ở đền Trấn Vũ cạnh Hồ Tây.

Một truyền thuyết khác kể về một ông khổng lồ có sức khoẻ phi thường, xuất gia theo Phật, chính là thiền sư Minh Không. Sư sang Tàu chữa bệnh cho con vua Tống. Khi công việc hoàn thành, vua muốn trả ơn, sư chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Vua Tàu đồng ý cho thiền sư tự ý vào kho lấy đồng. Sư đã lấy tất cả đồng đen trong kho bỏ vào tay nải và thả nón tu lờ làm thuyền, bơi về nước Nam. Về đến Thăng Long, ông dùng số đồng đó đúc thành bốn thứ bảo khí nhà Phật: tượng Phật cao 6 trượng, chóp đỉnh tháp Báo Thiên chín tầng, đỉnh đồng có đường kính 10 sải tay và một quả chuông đồng cực lớn. Chuông đúc xong, đức vua sai ông đánh một hồi chuông dài để báo hiệu cho dân chúng biết tin vui nước nhà đang thái bình thịnh trị. Tiếng chuông ngân đến tận kinh đô bên Tàu. Nghe tiếng chuông, con trâu bằng vàng to lớn nằm trước kho đồng bên Tàu tự dưng bừng tỉnh “Đồng đen là mẹ của vàng” ngỡ là tiếng mẹ gọi nó liền vươn mình phóng thẳng xuống phương Nam tìm đến quả chuông khổng lồ, quần mãi xung quanh. Trâu vàng quần quanh mãi mà vẫn không thấy, khiến cho cả một vùng đất lớn quanh quả chuông sụt xuống thành một vùng hố sâu. Quả chuông sau một hồi cũng đổ sụp xuống hố. Trâu vàng cũng theo đó nhảy xuống và nằm bên cạnh, chẳng bao lâu sau vùng đất bị trâu vàng dẫm sụt, nước tràn đầy trải rộng thành một hồ nước mênh mông. Từ đó, quả chuông cứ nằm mãi dưới lòng hồ không ai vớt lên nổi và trâu vàng vẫn cứ nằm mãi bên cạnh quả chuông dưới đáy nước sâu mà không quay về phương Bắc nữa. Do vậy người ta bèn đặt tên cho hồ là hồ Kim Ngưu. Sư Minh Không về sau được thợ đúc đồng vùng Ngũ Xá (nay ở đông nam hồ Trúc Bạch) thờ làm tổ sư nghề đúc đồng. Đình Ngũ Xá thờ tổ sư Minh Không hiện nằm trên phố Nguyễn Khắc Hiếu, chùa Ngũ Xá nằm trên phố Ngũ Xá đều thuộc phường Trúc Bạch. Trong đình có tượng tổ sư bằng gỗ cao 1m70, là pho tượng đồng lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Theo Tây Hồ chí, sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, tướng nhà Hán là Mã Viện đã gọi Hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ. Một viên tướng là Bình Lạc hầu Hàn Vũ đã chết ở đây. Tên gọi này thể hiện ý nghĩa rõ nhất vào những ngày giông bão, mặt hồ rộng, sóng nước nổi lên ầm ầm, tạo ra một cảnh hồ hùng tráng và nên thơ.

Một tên gọi nữa là Dâm Đàm, không biết chính xác được gọi trong thời gian nào, nhưng theo Trần Quốc Vượng thì Dâm Đàm có tên thật từ thời Lý - Trần với huyền tích Lý Nhân Tông ngồi thuyền Mục Thận xem đánh cá, gặp sương mù, có thuyền tới gần, trên có hổ. Mục Thận quăng lưới bắt hổ, hoá ra đó là thái sư Lê Văn Thịnh, và ông cho rằng Dâm Đàm nghĩa là hồ mù sương. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, hồ Kim Ngưu trở thành một địa điểm du ngoại được nhà vua và các quan ưa thích, nhiều lần trong các buổi du ngoại, nhà vua gặp sương mù bao phủ, cảnh tượng hồ trở nêm huyền ảo mộng mơ, vì vậy hồ đã được đổi tên là Dâm Đàm. Năm 1573, để tránh tên huý của Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ. Ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo Trung Quốc là điều thường gặp.

Thời Lê - Trịnh, chúa Trịnh Tạc (1606-1682) được phong tước Tây Vương, nên các địa danh nào có chữ Tây ông đều ra lệnh đổi thành Đoài, như Sơn Tây gọi thành Xứ Đoài, nên Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ. Nhưng cái tên Đoài Hồ không được dùng lâu, sau đó còn đổi thành Diêm Hồ, Liêm Đàm. Nhưng người ta vẫn quen gọi là Hồ Tây hơn.

Hồ Tây trước đây còn nổi tiếng có nhiều sâm cầm, được xem là đặc sản tiến vua, nhưng có giai thoại kể là nhờ công Bà huyện Thanh Quan thảo đơn giúp dân thưa việc xách nhiễu của quan trên và vua Tự Đức xét đơn đã tha lệnh cống cho vùng. Nhưng cùng với thời gian, Hồ Tây hẹp lại, ô nhiễm hơn hơn và ít rong rêu, và vì sự săn bắn bừa bãi, từ khoảng năm 1994, chim sâm cầm đã không trở về đây.

Hồ Tây
Hình: Hồ Tây