Thơ » Việt Nam » Tây Sơn » Phạm Thái » Sơ kính tân trang
Đăng bởi Vanachi vào 20/11/2007 15:57
Năm ngày tới chốn thư trai,
Khách đưa chàng đến mái ngoài Thuý Dương.
Bồn cây biếc, bể cá vàng,
Dây thiên lý quấn bức tường ruổi chen.
Trong thì màn trướng rũ then,
Quan thư có án, nghênh tiên có đường.
Lồng đèn, ống điếu, lò hương,
240. Bức tranh thuỷ mặc, giá gương xa cừ.
“Lạc thiên” hai chữ ngân thư,
Rèm in tễ nguyệt cửa chờ quang phong.
Tôi trai Yến tử, Thanh đồng,
Dủ chiều nhanh nhẩu, lọt vòng khéo khôn.
Vườn hoa phó giữ tưới vun,
Bỗng đâu bên mái tây môn một nàng.
Vẻ người hầu hạ cung trang,
Nhởn nhơ tay bẻ mẫu đơn một cành.
Yến đồng ướm hỏi sự tình,
250. Nàng nghe bèn nói thanh minh mọi đường:
“Tôi là thị nữ Hồng nương,
Qua đây thấy vẻ thanh quang muốn vào.”
Yến rằng: “Ngán nhẽ làm sao,
Của người mà bỗng chắt chiu lạ lùng.
Mình còn say đắm vẻ hồng,
Huống chi ta chẳng não nùng hương du.
Nửa e huệ oán lan tu,
Nắng hè sen thảm, trăng thu cúc hờn.”
Hồng rằng: “Mến cảnh tìm thơm,
260. Chót lầm lạc bước thì van vỉ người.
Kẻo khi trúc mỉa mai cười,
Đào e ấp vẻ, thông ôi ả chiều.
Lệ thường vay mận trả đào,
Người đưa quà ấy, ta trao quỳnh nầy.
Vì hương ghẹo khách xuân say,
Nỡ nào hoa để bẽ mày với hương.”
Yến nghe Hồng nói dịu dàng,
Thôi đường mai mỉa, tìm đường vả vê.
Rằng: “Đây há khách vụng về,
270. Cũng nên dẩy liễu dun hoè cho xong.
Cũng là đắm trúc say thông,
Thấy đào hoa nở, vẻ hồng ướm chơi.
Yêu hương xót ngọc cho người,
Vậy nên cợt mận ghẹo mai thử tình.”
Hồng nghe ngán ngẩm trăm hình,
Giận người đưa đẩy, trách mình lẳng lơ.
Rằng: “Tôi trót chẳng e chờ,
Phải khi lỡ bước bơ vờ tới đây.
Xin ghi ân với dạ nầy,
280. Lấy hoa ắt cũng có ngày trả hoa.”
Yến rằng: “Nàng dẫu thế mà,
Nhưng rồi cũng phải thưa qua đến người.”
Vào trước án, gởi mọi lời,
Ngoài vườn hoa thấy có ai lạ lùng.
Chàng nghe sai Yến đòi Hồng,
Hồng vâng vào mái tây phòng tạ qua.
Rằng: “Tôi hầu hạ Thuý Nga,
Tìm hoa kết mãng vâng bà tôi sai.
Lỡ chân trộm tới cửa người,
290. Ngửa trông đuốc ngọc sáng soi má hồng.”
Chàng dạy Yến tử thanh đồng:
“Hoa thơm ai chẳng não nùng muốn đeo.
Mùi hương thoảng đến thì yêu,
Như lan hang thẳm dễ điều biết lan.
Vẻ chi dăm cánh hồng tàn,
Mà con lỡ khách hồng nhan làm gì!”
Truyền cho tha khách tức thì,
Hồng nương từ tạ trở về xuân lâu.
Gởi thưa mọi sự trước sau,
300. Nàng nghe cũng hỏi người đâu lạ lùng.
Hồng thưa rằng khách xa vùng,
Có chiều tuấn dật, có đồng thanh cao.
Xem chiều mỹ khổ mận đào,
Vốn ngoài Kinh Bắc mà vào Thuý Dương.
Một là vui thú tiên hương,
Thăm miền Tùng Lĩnh, tìm đường Đào Nguyên.
Hai là vui thú lâm tuyền,
Phải duyên đài các, thắm nguyền thảo hoa.
Cho nên quyến bạn yên hà,
310. Say sưa đông tuyết, la đà xuân phong.
Khen cho thực khách hào hùng,
Chẳng hào mà khác trần hồng thế du!
Xưa nay dễ mấy trượng phu,
Người phong lưu phải phong lưu đãi người.
Chàng từ nghe biết khúc nôi,
Sai Yến đồng lại tới nơi hỏi tường.
Yến vâng lời đến lầu trang,
Thấy phong quang lắm vẻ vang lạ lùng.
Một chiều là một não nùng,
320. Chẳng nơi hoàng các, ắt vùng huyền lâu.
Giọt đồng hồ, trống khoan mau,
Quân canh trên dưới, chị hầu vào ra.
Cửa đào, rèm thuý, thềm hoa,
Lầu phô cầm tú, sân loà phân phương.
Hoạ đài, cầm viện giăng hàng,
Kề bên kỳ quán, bắc ngang thi phòng.
Kia phấn bích, nọ hương cung,
Nhòm trang kinh các, ngắm dòng hoa lâu.
“Tuyển phu biển” diễn làu làu,
330. Ấy chiều quan phủ mà mầu tiên hương.
Yến dù lông cánh trăm đường,
Dễ mà đến chốn cung trang được nào.
Bỗng đâu may khéo làm sao,
Hồng nương bên mái vườn đào bước ra.
Nhác trông thấy Yến xa xa,
Hỏi rằng: “Có việc chi mà đến đây?”
Yến rằng: “Nhân có việc nầy,
Cậy nàng đưa đến cung tây thế nào?”
Hồng rằng: “Việc ấy dễ điều,
340. Vả nghiêm cẩn thế mà vào được đâu.
Người đây kén giá hảo cầu,
Thị thành mấy lứa, công hầu mấy ai.
Bao nhiêu những kẻ bất tài,
Cá nhàn hãy lánh ra ngoài cho xa.”
Yến rằng: “Nàng chửa biết mà,
Kẻ tài hoa với tài hoa kết nguyền.
Bình sơn lãnh yến phải duyên,
Kìa nơi tân liễu, nọ miền cẩm hương.
Người tây liễu, kẻ tây sương,
350. Thuỵ anh đôi chiếc uyên ương kén tài.
Cho hay tình phận bởi trời,
Đường nhân duyên ấy dễ người định nên.”
Hồng nghe Yến nói cẩn quyền,
Ngọt ngào miệng ấy, nhạt mềm dạ kia.
Hỏi rằng: “Ông những tài gì,
Mà chàng nhanh mép so bì cổ nhân?”
Yến rằng: “Ông bậc thanh xuân,
Tuổi vừa đôi tám, kinh phần uyên vi.
Từ chương, phú lục, văn thi,
360. Cung đao, kiếm mã mọi bề làu thông.
Nghề chơi tài tử lọt vòng,
Vang đàn thi bá, nổi vùng cầm tiên.
Cờ thần, rượu thánh nức tên,
Tiêu hay múa phượng, địch tiên gáy hoàng.
Nghề thuật số vốn tinh tường,
Gồm bèn Tiên, Thích, đủ đường Lý, Y.
Tiên nương dù có thanh kỳ,
Chẳng qua quốc sắc nga my khuynh thành.
Ngọc vàng sánh vẻ càng xinh,
370. Vả xưa đà quản ân tình nỡ khuây.
Dù chăng duyên hợp mưa mây,
Hãy xin thấy bóng nàng rầy mà thôi.”
Hồng nghe nói cũng nực cười:
“Những thì nghiêm cẩn, nhiều vời khôn thông.
Thế thì theo thiếp vào trong,
Nàng bèn có hỏi gọi Hồng chị em.”
Yến rằng: “Bài ấy cũng êm”,
Theo Hồng len lén vào thềm Thuý Nga.
Quỳnh nương vừa lúc thưởng hoa,
380. Nhác trông thấy lạ thoáng qua cội đào.
Bèn đòi Hồng thị nương vào,
Hỏi rằng: “Sau ấy kẻ nào lạ kia?”
Gởi rằng: “Em bé nhà quê,
Chốn quyền môn nó chưa hề vào ra.
Trộm nghe đây cửa phồn hoa,
Trẻ thơ đường đột xin bà thứ cho.”
Yến ta giả cách quê mùa,
Thu hình khép dạng nhấp nhô bóng Hồng.
Liếc trông vào chốn hoa phòng,
390. Sao giăng đèn nến, mây lòng khói hương.
Đại cù năm thức vóc trang,
Thuỷ tinh gương áo, kim cương cơi trầu.
Giá mun tranh đá quang lầu,
Đế ly hoá vật, thắm Tàu in hoa.
Màn thêu trướng dợn thuỷ ba,
Ống xen kim tử, rèm pha ngân hoàng.
Trừ trần trăm bức hoạ vàng,
Ấm hoa hồ phách, hộp hương xa cừ.
Quỳnh nương lắm vẻ trai lơ,
400. Chiều lịch sự, vẻ đong đưa khác vời.
Yến xem đủ khắp vẻ người,
Bảo Hồng gởi lại rằng tôi xin về.
Trình ông sau trước mọi bề,
Lầu trang trộm thấy dung nghi tỏ tường.
Trương công là đấng nghiêm đường,
Vốn dòng ngọc diệp, tên nàng Quỳnh Thư.
Xuân hoa bậc ấy đang vừa,
Tuổi vừa đôi bảy, phong tư lạ lùng.
Thước tầm phỏng dạng bằng ông,
410. Lam pha mày liễu, mỡ đông da ngà.
Chiều cá nhảy, vẻ nhạn sa,
Mắt long lanh nguyệt, tóc rà rà mây.
Má hồng, môi thắm hây hây,
Khổ mê thược dược, thức say hải đường.
Chiều sánh ngọc, vẻ so vàng,
Ôi hoa vì sắc, ủ hương vì màu.
Thị thành đã mấy ai đâu,
Nguyệt vi kém giá, xuân lâu ít làn.
Chỉn e tướng số chưa yên,
420. Hay là vì chữ hồng nhan quải gàn.
Hai cung nhật nguyệt thần quang,
Tài thông minh với văn chương rất kỳ.
Song hiềm phúc ấn tiêm đê,
E đường thọ khảo kém bề phu quân.
Tiền định hoa tạ tàn xuân,
May phần quy ẩn xấu phần tu cơ.
Dàm trình minh bạch sau xưa,
Nên chăng thầy định, đi về tôi vâng.”
Chàng rằng: “Mày nói phân vân,
430. Người đà thanh quý nhiều phân khác thường.
Làm sao tướng số dở dang,
Hay là ngươi ngắm chưa tường thế du!”
Yến rằng: “Há việc hồ đồ,
Mà thầy lại chửa biết cho chân tình.
Thế nào thầy định phân minh,
Việc gì thầy phó, điều đình mặc tôi.
Rất cao là gác long lôi,
Song nhàn còn được no đôi đêm ngày.
Khơi chừng rất mực cung tây,
440. Thanh loan cũng lọt vào mây đưa tình.
Cẩm đường điện nọ nghiêm canh,
Chim anh sao khéo đậu cành véo von?
Lầu cao biếc ngất mây tuôn,
Hoàng oanh mấy tiếng nỉ non bên đường.
Những bài phi tẩu vật thường,
Còn len lỏi đến cung trang lạ là.”
Ngụ tình chàng vịnh một ca,
Điệu Tây giang nguyệt, khúc hoà thương âm:
Oanh yến véo von gọi khách,May thay một hội tương kỳ,
450. Cỏ hoa hớn hở mừng ai.
Gió xuân hây hẩy giục đưa người,
Dễ khiến lòng thơ bối rối.
Thấp thoáng thoi oanh dệt liễu,
Thung thăng phấn bướm dồi mai.
Vũ Lăng xa diễn biết bao vời!
Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá!
Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá!
Dòng ngự câu gieo lá tình thi.
Rủi hoa run lá bởi duyên trời,Xin cho tỏ nỗi niềm ai,
Nghĩ đến duyên do cũng nực cười.
Bắc Yến nam Hồng, tình một bức,
Đông đào tây liễu, khách đôi nơi.
Lửa ân dập mãi sao không tắt?
Bể ái khơi hoài cũng chẳng vơi.
Đèn nguyệt ví bằng mây chẳng bợn,
480. Xin soi cho tỏ nỗi niềm ai.
Khổn hoa từ mảng phong thanh,Yến đồng lãnh lấy hoa tiên,
Nức hương kinh các, nổi danh tao đàn.
Trong tình trường, thư hồng mấy kẻ,
Chốn phòng hương lắm vẻ phong quang.
Nguyện lòng này với lửa hương,
Rạng bình xạ tước, nức giường thừa long.
Xuân đài mặc đông phong liệu lượng,
490. Nhắc câu tình cho đúng đồng cân.
Thư này gởi với giai nhân,
Đem phong nguyệt góp cõi trần làm duyên.
Im ỉm màn màn sương đợi khách,Lá thơ đề, ân cần mấy chữ,
Thênh thênh cửa nguyệt chờ ai.
Giai nhân tài tử mấy lăm người,
Trạnh tưởng tâm tình thêm rối.
Phơi phới gió lay chồi liễu,
Phau phau tuyết điểm cành mai.
Non cao chất ngất, bể xa vời,
Ai biết Bồng Doanh chăng tá!
Ai biết Bồng Doanh chăng tá!
520. Uẩy thuyền đâu chiếc lá xa xa.
Lầu cao ghé mắt trông ra,
Ấy là Lưu tử hay là Từ lang?
Nhủ đông hoàng mặc lòng khu xử,
Chớ đem xuân suồng sã trần gian.
Vin xe dưới nguyệt hỏi han,
Rằng ông Nguyệt hỡi, trong nang có gì?
Dắt mối đưa duyên cũng bởi trời,Chớ trăng hoa nữa bẽ người,
Vì ai run rủi nghĩ như cười.
Dặn dò lá thắm còn in đấy,
Gần bó thư vàng đã có nơi.
Nhắc gánh nhân duyên dường chửa nặng,
540. Dò nguồn ân ái hãy còn vơi.
Miễn rằng vàng đá lòng như một,
Chớ thói trăng hoa nữa bẽ người.
Nhủ dì gió rằng duyên là thế,Nàng phong thư phó Hồng nương,
Chớ vì tài mà rẻ chữ nhân.
Lời nầy gởi với đông quân,
550. Chơi xuân trải vẻ thanh tân mới hào.
Đường tình phận thư trao nhạn cá,
Bức cẩm vân phải hoạ một thiên.
Gọi là phúc bút làm duyên,
Thô sơ xin có, hay hèn dạy cho.
Hương lửa tình nầy dễ nói năng,Chàng xem thư dẫu thêm phiền,
570. Chẳng hay lòng khách thấu cùng chăng?
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu đâu xui yến cách chừng.
Vàng đá nên chăng cùng một ước,
Nước non thề đã có đôi vầng.
Lời nầy dặn với tri âm nhẽ,
Chớ phụ cầm treo dối ánh trăng.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.