Khâm định thăng bình bách vịnh là một sưu tập thơ Nôm thể thất ngôn. Tuy nói là “bách vịnh”, nhưng thực tế trong văn bản chỉ có 90 bài, ở mục Hồ thiên thập vịnh chỉ có ghi tên đề mục mà không thấy chép bài thơ nào. Trong số 90 bài thơ này, có hai bài thơ chữ Hán, có 13 bài có kèm lời dẫn giải bằng Hán văn. Hiện nay trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được một bản chép tay mang ký hiệu AB.587. Sách dày 83 trang, khổ 20x30cm, chữ viết ngay ngắn rõ ràng, dạng chữ gần giống với chữ viết trong các văn bản Nôm đời Lê. Chùa Đậu Tự (chùa Pháp Vũ), huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (cũ) còn có một bức hoành khắc một bài thơ giống với bài 18 Pháp Vũ tự thi trong tập thơ này. Bản khắc gỗ có ghi dòng lạc khoản, năm Mậu Dần (1698) niên hiệu Chính Hoà đời Lê Hy Tông. Sự giống nhau giữa hai bài thơ này chứng tỏ rằng bản chép tay này rất gần với nguyên bản đời Lê, hơn nữa trong văn bản không thấy hiện tượng viết kiêng huý các vua triều Nguyễn. Sách không ghi tên người biên soạn, trong Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn và Kinh tịch chí của Phan Huy Chú đều không nhắc đến tên tập thơ này. Tuy vậy, qua một số cứ liệu trên chúng ta có thể đoán định tập thơ được sưu tập biên soạn vào khoảng cuối Lê đầu Nguyễn. Cuối tập thơ có ghi dòng chữ “Lê triều Đại nguyên soái tổng quốc chính Thái sư thượng phụ Bình An Vương ngự đề” cho thấy tập thơ này do Trịnh Tùng sáng tác.
So sánh cho thấy tập thơ Ngự đề Thiên hoà doanh bách vịnh của Trịnh Căn mà Nguyễn Văn Tố giới thiệu 55 bài trên báo Tri tân năm 1941 với tập thơ này chỉ là một. Theo Nguyễn Văn Tố, tác giả của tập Ngự đề Thiên hoà doanh bách vịnh là “Đại nguyên soái thống quốc chính Thượng thánh phụ sư Thịnh công nhân đức Định Vương”, tức là Trịnh Căn.
Nội dung văn bản cho thấy rằng tác giả tập thơ này phải là Trịnh Căn, với một số lý do:
- Trong các bài tiểu dẫn, tác giả nhiều lần nhắc lại ý “Nối nghiệp các thánh vương”, có nghĩa là trước tác giả, dòng họ Trịnh không chỉ một người được phong thánh vương. Trước Trịnh Tùng chỉ có một mình Trịnh Kiểm nắm giữ binh quyền, hơn nữa khi còn sống Trịnh Kiểm chỉ được vua Lê phong làm Thượng tướng Thái sư Thượng phụ, sau này mới được truy phong làm Minh Khang Thái Vương. Trịnh Tùng là con thứ hai của Trịnh Kiểm, khi chết Trịnh Kiểm di chúc cho con trưởng là Trịnh Cối nắm giữ binh quyền, sau này Trịnh Tùng tranh chấp với anh và giành giật lấy binh quyền. Như vậy về danh nghĩa Trịnh Tùng không phải là người thừa kế chính thống. Do vậy Trịnh Tùng không đúng với thân phận “Nối nghiệp các thánh vương” được. Còn Trịnh Căn là chúa Trịnh đời thứ 5, trước Trịnh Căn có Trịnh Tạc, Trịnh Tráng, Trịnh Tùng, Trịnh Kiểm, do vậy Trịnh Căn đủ là thế đế nói rằng mình “Nối nghiệp các thánh vương”.
- Trịnh Tùng nắm giữ binh quyền trong khoảng thời gian 1570 đến 1622. Thời kỳ này họ Mạc còn vững mạnh, kinh thành Thăng Long vẫn do nhà Mạc chiếm giữ. Mãi đến năm 1592, Trịnh Tùng mới kéo quân về Thăng Long bắt được Mạc Mậu Hợp, lật đổ nhà Mạc. Tuy mất Thăng Long, song dư đảng của họ Mạc còn lớn, các đời Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung vẫn còn cậy thế rất lâu ở các vùng Hải Dương, Kinh Bắc, Cao Bằng... Trịnh Tùng luôn luôn phải lo đánh dẹp các thế lực họ Mạc ở phương Bắc. Mặt khác từ đầu thế kỷ 17, mâu thuẫn giữa hai họ Trịnh, Nguyễn đã nổ ra gay gắt. Năm 1613, Nguyễn Phúc Nguyên lên thay Nguyễn Hoàng, cắt đứt quan hệ phụ thuộc với Đàng ngoài, và đến 1620 thì bùng nổ ra cuộc nội chiến giữa hai họ kéo dài mãi đến năm 1672 mới tạm dừng. Như vậy suốt thời gian nắm quyền bính, Trịnh Tùng luôn phải lo đối phó với các thế lực phong kiến khác ở phía bắc và phía nam, do đó không đúng với cái ý ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị nhắc lại nhiều lần trong tập thơ. Còn Trịnh Căn nắm giữ binh quyền từ năm 1682 đến năm 1705, thời kỳ này thế lực của họ Mạc dường như mất hẳn, ở phía nam thì đã hoà hoãn với họ Nguyễn được 10 năm. Đời sống kinh tế xã hội ở Đàng ngoài thời kỳ này đã tương đối ổn định, cho phép Trịnh Căn đủ thời giờ lịch lãm đây đó như tập thơ đã phản ánh.
- Bài thơ Pháp Vũ tự bi nói đến ở trên ghi rõ năm ngự đề là năm Mậu Dần (1698) niên hiệu Chính Hoà đời vua Lê Hy Tông, nghĩa là bài thơ này sáng tác lúc Trịnh Căn đang nắm quyền bính, và sau 75 năm kể từ khi Trịnh Tùng chết.
- Trong sử sách chưa tìm thấy ở đâu nói việc Trịnh Tùng làm thơ, nhưng Trịnh Căn thì sử sách có nói ông làm thơ. Chẳng hạn sách Lê triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng có chép Trịnh Căn đến nhà Thái học đã làm thơ ca tụng công đức của Thánh nhân, khắc vào bia đá dựng ở cửa nhà Thái học.
- Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục xác nhận bài Phật Tích Sơn tự thi chép trong tập sưu tập này là của Định Vương Trịnh Căn.
Khâm định thăng bình bách vịnh là một sưu tập thơ Nôm thể thất ngôn. Tuy nói là “bách vịnh”, nhưng thực tế trong văn bản chỉ có 90 bài, ở mục Hồ thiên thập vịnh chỉ có ghi tên đề mục mà không thấy chép bài thơ nào. Trong số 90 bài thơ này, có hai bài thơ chữ Hán, có 13 bài có kèm lời dẫn giải bằng Hán văn. Hiện nay trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được một bản chép tay mang ký hiệu AB.587. Sách dày 83 trang, khổ 20x30cm, chữ viết ngay ngắn rõ ràng, dạng chữ gần giống với chữ viết trong các văn bản Nôm đời Lê. Chùa Đậu Tự (chùa Pháp Vũ), huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (cũ) còn có một bức hoành khắc một bài thơ giống với bài 18 Pháp Vũ tự thi trong tập thơ này. Bản khắc gỗ có ghi dòng lạc khoản, năm Mậu Dần (1698) niên hiệu Chính Hoà đời Lê Hy Tông.…
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.