Thi nhân vốn đa tình, nên nói Nguyên Chẩn là một nhà thơ đa tình e chưa chính xác. Song người đời cũng có lắm kẻ đa tình mà không phải là thi nhân, vả chăng sự đa tình ở thi nhân cũng có lắm chỗ khác với người đời, nên nói như vậy cốt để làm rõ rằng ông chỉ là người đa tình trong các nhà thơ mà thôi, chứ chẳng phải là so với con người trong thiên hạ.

Chẩn nghe danh kỹ Tiết Đào ở Ích Châu giỏi từ chương, muốn gặp mà chưa có dịp. Đến khi được cử làm Giám sát vào Tây Thục lấy quyền Ngự sử xét việc ngục tụng thì vì địa vị lại khó tới gặp nàng. Quan sở tại biết ý, bảo Tiết Đào tới gặp. Sau Chẩn về kinh đổi bổ làm việc ở Hàn lâm viện, có gởi nàng một bài thơ rằng:
Cẩm Giang hoạt nhị Nga My tú,
Sinh xuất Văn Quân dữ Tiết Đào.
Ngôn ngữ xảo thâu anh vũ thiệt,
Văn chương phân đắc phượng hoàng mao.
Phân phân từ khách đa tình bút,
Cá cá công hầu dục mộng đao.
Biệt hậu tương tư cách yên thuỷ,
Xương bồ hoa phát ngũ vân cao.

(Núi sông đất Thục trời cho đẹp,
Sinh được Văn Quân với Tiết Đào.
Ngôn ngữ êm lời anh vũ nói,
Văn chương sánh giá phượng hoàng cao.
Thi nhân rối rít đành ngưng bút,
Khanh tướng mơ màng mãi Ích Châu.
Ly biệt nhớ nhau vời khói sóng,
Xương bồ năm sắc dáng hoa đâu.)
Sau Chẩn làm Liêm vấn Chiết Đông, lại gặp nàng Lý Thái Xuân từ đất Hoài tới, dung nhan đẹp đẽ không ai sánh được. Chẩn làm thơ tặng nàng rằng:
Tân trang xảo dạng tận song nga,
Bao mạn Thường Châu thấu ngạch la.
Chính diện thâu luân quang hoạt vẫn,
Noãn hành kinh đạp trửu văn ba.
Ngôn từ nhã thác phong lưu túc,
Cử chỉ đê hồi tú mỵ đa.
Cánh hữu não nhân trường đoạn xứ,
Tuyển từ năng xướng Vọng phu ca.

(Mày tô lối mới tựa tiên nga,
Y phục xinh tươi rỡ gấm là.
Trước mặt môi son ngời yểu điệu,
Sau chân sóng gợn bước kiêu sa.
Nói cười gieo ngọc trong như nhạc,
Dáng vẻ tiêu hồn thẹn chết hoa.
Lại khéo não nùng cung đứt ruột,
Chọn lời đặt khúc Vọng phu ca.)
Vọng phu ca tức khúc hát La Hống, một khúc điệu khởi từ Lý Thái Xuân.

Chẩn ở Chiết Hà bảy năm, một hôm uống rượu say đề thơ ở cửa Đông Vũ rằng:
Dịch dịch hành nhân sự,
Phân phân toái bạ thư.
Công phu lưỡng nha tận,
Lưu trệ thất niên dư.
Bệnh thống mai thiên phát,
Thân tình hải ngạn sơ.
Nhân tuần vị quy đắc,
Bất thị ức lô ngư.

(Việc lại nhiều phiền toái,
Công văn chán rối mù.
Công phu hai chỗ hết,
Nát bét bảy năm dư.
Bệnh xót trời mai nở,
Tình sầu góc bể thưa.
Bởi về chưa thoả ý,
Gỏi vược chẳng tương tư.)
Thị lang Lý Giản Cầu đùa rằng “Thừa tướng không nhớ gỏi cá vược (ý nói nhớ quê) mà chỉ thích sắc xuân trên Kính Hồ thôi” (sắc xuân chỉ nàng Thái Xuân).

Vợ trước của Chẩn là con gái Kinh triệu doãn họ Vi, tên Huệ Tùng. Khi Huệ Tùng chết, Chẩn làm thơ khóc, có câu rằng:
Tằng kinh thương hải nan vi thuỷ,
Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.

(Đã qua bể thẳm khôn còn nước,
Ngoài chốn non Vu chẳng có mây.)
Lời thơ bóng bẩy nhưng ý tứ rất chân thành - Chẩn ví vợ mình như nước bể thẳm, mây non Vu, đã chung sống với nhau rồi thì trong thiên hạ khó có được người đàn bà nào có thể thay thế. Cái tình cảm sâu nặng với vợ ấy ở ông không phải là giả dối, mặc dù ông vẫn có quan hệ tình cảm với nhiều người khác. Bởi vì là con người thì ông là một kẻ thâm tình, còn là thi nhân thì ông là một người đa tình, mà sự đa tình ở thi nhân có chỗ khác với ở người đời là không chỉ trong phạm vi tình trai gái. Đa tình ở đây không phải là có tình với nhiều người mà là với nhiều điều có thể làm người ta ngưỡng mộ và phát sinh tình cảm. Tình cảm của Nguyên Chẩn với hai nàng danh kỹ Tiết Đào, Lý Thái Xuân và với vợ là ví dụ tiêu biểu. Ông có tình với Tiết Đào là có tình với tài, có tình với Lý Thái Xuân là có tình với sắc, có tình với vợ là có tình với tình. Và phải chăng khả năng ngưỡng mộ và phát sinh tình cảm với những điều tốt đẹp trên đời trước hết qua các dạng thức hoàn hảo cụ thể của chúng chính là yếu tố quan trọng bậc nhất làm nên phẩm chất và bản lĩnh thi nhân?

Nguồn: Cao Tự Thanh, Giai thoại thơ Đường, NXB Phụ nữ, 1995
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.