Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Bài thơ có 5 dị bản, hãy chọn bản muốn xem:

1 Bản quốc ngữ do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu đính

2 Bản Liễu Văn đường (1866), do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm (thiếu toàn bộ)

3 Bản Liễu Văn đường (1871), do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm

4 Bản Lâm Noạ Phu (1870), do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm

5 Bản Kiều Oánh Mậu (1902), do Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng phiên âm

Gái họ Vương thân liều dao bén;
Sách mụ Tú mẹo bịp má đào.


[...]Những là lạ nước, lạ non,
920. Lâm Chuy[1] vừa một tháng trời tớitròn tớitròn tới nơi.
Xe châu[2] dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
ThoắtThoạt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn chi cao lớn, đẫy đà làm sao?
925. Trước xe, lơibảlôi lả han chào[3],
Vâng lời, nàng mới bướctheo vào tận nơi.
Bên thìnày mấy ả mày ngài[4],
Bên thìkia ngồi bốn năm người làng chơi.
Giữa thìbày hương lửatriệnán hẳn hoi,
930. Treo trênTrên treo một tượng trắng đôi lông mày[5].
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này thìphải lấy ông này tiên sư[6].
Hương hoa hôm sớm phụng thờ,
Cô nào xấu vía, cho thưa mối hàng.
935. Cổi[7] xiêm, lột áo chán chường[8],
Trước thầnbàn, sẽ[9] nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa[10] lót xuống chiếu nằm,
Bướm ong bayong điđi, ong lại ầm ầm tứ vi[11].
KiềuNàng còn ngơ ngẩnbỡ ngỡ biết chi,
940. Cứ lời, lạy xuống, mụ thì khấn ngay:
CửaMở hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực[12], ngày ngày nguyên tiêu[13].
Muôn nghìnvàn người thấy cũng yêu,
Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai.
945. Tin nhạn[14] vẩnvượt, lá thơthư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau!”
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng nhưnhững màu dở dang.

Lễ xong hương hoả giatừ đường[15],
950. Tú Bà vắt nócnhụcvẻo lên giường ngồi ngay.
Dạy rằng: “Con lạy mẹ đây,
Lạy rồi sangthì lạy cậu mày[16] bênngộ kia.”
Nàng rằng: “Phải bước lưu ly,
Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh[17].
955. Điều đâu lấy yến làm anh,
Ngây thơ chẳngchửa biết là danh phận gì?
Đủ điều nạp thái vu quy,
Đã khi chung chạsuồng sã, lại khi đứng ngồi.
Giờ ra thay bậc, đổi ngôi,
960. Dám xin gửi lại một lời cho minh.”
Mụ nghe nàng nói, hay tình,
Bấy giờ mới nổi tam bành[18] mụ lên:
“Này này sự đã quả nhiên,
Thôi đà cướp sống chồng min[19] đi rồi!
965. Bảo rằng[20]: “Đi dạo lấy người,
Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.
Tuồng vô nghĩasỉ, ở bất nhân,
Buồn mình trước đã tần mần thử chơi.
Màu hồ đã mất đi rồi,
970. Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!”
Con kia đã bán cho ta[21],
Nhập giaVào nhà, cứ phảiphải cứ phép nhà tatao đây.
Lão kia có giởtrở bài bây,
Chẳng văngmắng vào mặt mà mày lạiđành nghe?
975. Cớ sao chịu tốttót[22] một bề,
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
Phải làm cho biết phép tao!”
Chập[23]Giật bì tiên[24], rắp sấn vào ra tay.
Nàng rằng: “Trời thẳm đất dày,
980. Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
Thôi thì thôi,thôi còn có tiếc gì!”
Sẵn dao tay áo, tức thì giở ra.
Sợ gan nát ngọc, liều hoa[25],
Mụ còn trôngnhìn mặt, nàng đà quá tay.
985. Thương ôi, tài sắc bậcmựcbực này,
Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần[26]!
Nỗi oan vỡ lởlở vỡphá lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nennêm[27].
Nàng thìvừa bằn bặt giấc tiên,
990. Mụ thì cầm cậpmồn một, mặt nhìn hồn bay.

Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coixem sóc, rướcchạyliền thầy thuốc menthang.
Nào hay chưa hết trần duyên[28],
Trong mê dường đã đứng bên một nàngmê trông thấy Đạm Tiên rõ ràngmê đã thấy Đạm Tiên rõ ràngmây thôi đã đứng bên một nàng.
995. RỉBảo rằng: “Nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn tràng đượchay sao?
Số còn nặng nghiệp má đào,
Người dù muốn quyếtlánh, trời nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu bồChịu lời cho vẹn kiếp tuHãy xin trọn[29] kiếp liễu bồ,
1000. Sông Tiền Đường[30] sẽ hẹn hò về sau.”

Thuốc thang suốt một ngày thâu,
Giấc tiên nghe đã dàu dàu vừa tan.
Tú Bà chực sẵn bên màn,
LựaKiếmDịuGieo lời khuyên giải, mơnmiên man gỡ dầnlần:
1005. “Một người dễ có mấy thân!
Hoa xuân đương nhuỵđương chiếngđăng nhuỵ[31], ngày xuân còn dài.
Cũng là lỡnhỡ một lầmnhầm hai,
Đá vàng[32] saochi nỡ ép nài mưa mâymây mưa[33]!
Lỡ chân trót đãđã trót vào đây,
1010. Khoá buồngphòng xuân[34] để đợichờhành ngày đào non[35].
Người còn thìấy của hãycũng còn,
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà[36].
Làm chi tội báo[37] oan gia[38],
Thiệt mình mà hại đến ta hayích gì?”
1015. Kề tai mấy nỗi nằn nì,
Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi[39].
Vả trongsuy thần mộng[40] mấy lời,
Túc nhân[41] âuthì cũng có trời ở trong.
Kiếp này nợ trả[42] chưa xong,
1020. Làm chi thêm một nợlại chọn mộtlại một nợthì cũng một chồng[43] kiếp sau!
Lặng nghe, thấm thíathấm ngấmngẫm nghĩ[44] gót đầu,
Thưa rằng: “Ai có muốn đâu thế này.
Được như lời thế là may,
Hẳn rằng mai có như vầyrày cho chăng?
1025. SợE khi ong bướm đãi đằng[45],
Đến điều sống đục, sao bằng thác trong!”
Mụ rằng: “Con hãy thong dong[46],
Phải điều lòng lại dốiđổi lòng mà chơi!
Mai sau ở chẳng như lời,
1030. Trên đầu có bóng mặt rời rạngsáng soi.”
Thấy lời quyết đoán hẳn hoi,
Đành lòng, nàng cũngmới sẽ[9] nguôi nguôi dần.


Đoạn này ứng với Hồi 8 trong nguyên truyện: “Vương hiếu nữ cam tâm bạch nhận; Mã Tú ma kế trám hồng nhan” 王孝女甘心白刃;馬秀媽計賺紅顏 (Vương hiếu nữ dao oan liều mệnh bạc; Mã Tú Bà kế độc gạt hồng nhan).

Chú thích:
[1]
Tên huyện, thuộc tỉnh Sơn Đông. Chữ này các bản quốc ngữ khác nhau phiên là Lâm Chuy, Lâm Truy hoặc Lâm Tri, chỉ là do cách đọc, không phải dị bản.
[2]
Xe có rèm hạt châu, thứ xe phụ nữ ngồi.
[3]
Thăm chào, hỏi han.
[4]
Tức mấy ả gái điếm.
[5]
Tức Bạch my xích nhãn thần (thần mày trắng mắt đỏ), là tổ sư của nghề lầu xanh. Chú ý xưa kia cũng gọi tranh là tượng. Bản Duy Minh Thị chép câu này là “Treo tranh Quan Thánh trắng đôi lông mày”, Quan Thánh tức Quan Vân Trường. Như vậy không đúng hẳn vì nguyên truyện viết: “Vào đến nhà thờ, đã thấy bày biện hương hoa lễ vật, phía trên treo một bức tượng giống tượng Quan Thánh đế quân mà khi nhìn kỹ thấy đôi lông mày trắng toát. Thì ra vị thần ấy kêu tên là Bạch mi thần...” Theo như nguyên truyện thì không phải là tượng Quan Thánh mà chỉ là tượng Bạch mi thần trông giống tượng Quan Thánh thôi.
[6]
Tổ sư, ông tổ sáng lập ra một nghề. Chữ dùng hàm ý mỉa mai.
[7]
Âm cổ, như “cởi”.
[8]
“Chán chường” hoặc “cháng chường” nghĩa cổ là tỏ tường, phô bày trước mắt, vẫn còn dùng như trong “chường mặt ra đó”. Không nên hiểu theo nghĩa chán nản.
[9]
Tức là khe khẽ, từ từ.
[10]
Như nói “thải hoa”, tức như lấy hoa mới để thờ, thải hoa cũ lót xuống dưới chiếu để nằm.
[11]
Bốn phía xung quanh.
[12]
Ăn lạnh, ăn đồ nguội. Giới Tử Thôi giúp Tấn Văn Công khôi phục lại ngôi vua, nhưng lúc ân thưởng triều thần. Văn Công lại quên mất Tử Thôi. Tử Thôi bất bình trốn vào núi ở ẩn. Đến lúc Văn Công nghĩ lại, muốn vời Tử Thôi, nhưng Tử Thôi quyết chí ở ẩn, Văn Công ra lệnh đốt rừng Tử Thôi quyết tâm chịu chết cháy ở trong núi. Văn Công hối hận vô cùng ra lệnh hàng năm đúng ngày Tử Thôi chết, cấm không được đốt lửa. Do đó mà có tục hàn thực, cứ trước tiết thanh minh hai ngày (có sách chép một ngày) người ta cấm đốt lửa, ăn đồ nguội, và tổ chức nhiều cuộc vui đá cầu, đánh đu, chọi gà, kết xe hoa đi dong chơi.
[13]
Đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng riêng đầu năm. Đây Tú Bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông đúc, tấp nập như những ngày hội hàn thực nguyên tiêu.
[14]
Tô Vũ người đời Hán đi sứ sang Hung nô không chịu khuất phục, bị chúa Hưng Nô đầy lên Bắc Hải chăn dê, nhà Hán hỏi thì bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán săn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm chân nó có buộc một bức thư lụa của Tồ Vũ gửi về, khi ấy Hưng Nô mới chịu trả lại Tô Vũ cho nhà Hán. Do đó, người ta thường nói “tin nhạn” để chỉ tin thư. ở đây, tác giả dùng như nghĩa “tin tức” đơn thuần.
[15]
Bốn chữ này nguyên chỉ nhà hay bàn thờ cúng gia tiên, đây tác giả dùng chỉ bàn thờ thần Bạch my.
[16]
Tức cha mày, chỉ Mã Giám Sinh, Tú Bà bắt Kiều lạy nhận mụ là mẹ nuôi, Mã Giám Sinh là cha nuôi. Trong Từ điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh giảng cậu là em của mẹ. Giảng như vậy thì không ổn vì “cậu” là chữ Nôm còn “cữu” là chữ Hán. Chữ “cữu” (cậu) có mấy nghĩa: 1. Anh em với mẹ mình; 2. Bố chồng (con dâu gọi bố chồng là cữu); 3. Bố vợ (chồng gọi bố vợ là ngoại cữu); 4. Các anh em vợ cũng gọi là cữu. Như vậy Tú bà khi bắt Kiều gọi mình là mẹ đã coi Kiều là con nên đã bắt Kiều lạy Mã Giám Sinh bằng “cậu” tức là bố thì đúng rồi. Tú Bà và Mã Giám Sinh chằng khác gì “già nhân ngãi, non vợ chồng”. Nguyên truyện đã viết: “Tú mụ... đạo: Giá đẳng thuyết lai, nễ yếu chiếm ngã đích lão công liễu!” (Tú mụ nói: Cứ lời mày nói thì mày đã chiếm mất chồng tao rồi).
[17]
Sao nhỏ, chỉ vợ lẽ. Nguyên truyện họ Mã có nói cưới Kiều làm lẽ.
[18]
Theo sách Đạo giáo, trong người ta có ba thần thi: Thượng Thi, tên Bành Chất, ở bụng; Hạ Thi, tên Bành Kiệu, ở chân; thường làm hại người. Do đó, người ta cho rằng những sự hung ác giận dữ của người là do thần Tam Thi hay Tam Bành làm ra, và thường dùng chữ “tam bành” để chỉ cơn tức giận.
[19]
Min tiếng cổ nghĩa là ta, tao. Bản Quan Văn đường khắc là “của min” và có người giải là Tú Bà chửi họ Mã làm mất trinh Kiều là mất của (mất vốn) của mụ. Còn Tổng tập văn học theo nguyên truyện, cho “chồng min” là đúng.
[20]
Hai câu này nghĩa là Tú Bà đã nói Mã Giám Sinh đi kiếm gái về lầu xanh để tiếp khách.
[21]
Câu này trở xuống vẫn là lời Tú Bà nhưng mà nói với Kiều, còn ở trên là Tú Bà tự nói với mình.
[22]
Chịu im.
[23]
Chập ở đây là gấp nhiều đoạn roi ghép vào cho thành một cụm to.
[24]
Cái roi bằng da.
[25]
Ý nói sợ cho cái gan dám liều mình tự tử.
[26]
Cõi đời gió bụi. Ý nói một nhát dao oan nghiệt cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần tức là chết.
[27]
Bản Lâm Noạ Phu viết 如𢬧 thì có thể phiên âm là “như nêm”. Chữ “nêm” đây là một động từ khác với chữ “nêm” trong câu 48 (Ngựa xe như nước, áo quần như nêm) là một danh từ, có nghĩa là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng. Chữ Hán có câu “Xa mã như thuỷ, y thường như xỉ”. Câu 48 đặt theo lối tiểu đối “nước” (danh từ) đối với “nêm” (danh từ). Tục ngữ có câu “Chật như nêm cối”. Trong quyển Truyện Thuý Kiều (in lần thứ ba, 1934), Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim có ghi chú: “Có người đọc ra chữ ‘nen’, nói là ví như một thứ cây thường mọc chen chúc nhau ở sườn núi. Chữ ‘nen’ không phổ thông mà nghe có ý cầu kỳ.”
[28]
Nhân duyên cõi trần, cõi đời.
[29]
Là hết. Bản chữ Nôm chính âm là ‘chọn’ (chọn lựa), nhưng ở đây phiên là “trọn” (tất cả, hết) cho đúng, vì người Bắc hay lẫn hai phụ âm này.
[30]
Tên một con sông chảy qua gần Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).
[31]
Hoa xuân đương lên nhuỵ, tức mới nở, ý nói Kiều còn trẻ trung. Bản Kiều Oánh Mậu khắc “đương chiếng” nghĩa là đang nảy mầm, nhú ra.
[32]
Đây chỉ lòng kiên trinh của phụ nữ.
[33]
Chỉ sự buông thả dễ dãi. Câu này ý nói đã quyết giữ trinh tiết như thế, thì không ai nỡ ép nài phải ra tiếp khách nữa.
[34]
Khoá kín vẻ xuân trong buồng, như nói cấm cung.
[35]
Đợi ngày lấy chồng. “Đào non” là từ chữ “đào yêu” trong Kinh thi, chỉ người con gái sắp lấy chồng.
[36]
Các bản cũ để “là con cái nhà”, nghĩa là tìm con cái nhà xứng đáng mà lấy. Bản Liễu Văn đường viết “làm con cái nhà” thì sai mất nghĩa.
[37]
Như nói là ác báo.
[38]
Kẻ oán thù, cừu thù.
[39]
Lẽ phải, lẽ trái phân minh. Đại ý là Kiều nghe lời Tú Bà nói cũng có lý.
[40]
Lời báo mộng của quỷ thần (tức Đạm Tiên).
[41]
Nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số tiền định.
[42]
Hai chữ này viết 𡢻㨋 hoặc 𡢻者 thì lẽ ra phải đọc là “nợ giả” như âm xưa thì nay đều đọc là “trả”.
[43]
Chồng là chồng chất lên. Có nhiều bản viết là “Làm chi thì cũng một chồng kiếp sau” thì e không đúng nghĩa. Nguyên đoạn này trong chính bản là: “Kiều tưởng đạo tiền sinh nghiệp trái, kim nhật vị hoàn, hựu tăng lai sinh nhất trùng oan trái, hà thời hoàn đắc càn tĩnh” 翹想道前生孽債,今日未還,又增來生一重怨債,何時還得乾淨 (Kiều nghĩ thầm rằng nợ kiếp trước mà kiếp này không trả, lại để kiếp sau nợ chồng lên một lần nữa, thì bao giờ gỡ ra cho xong).
[44]
Bản Lâm Noạ Phu khắc 浸噤 có thể đọc là “tẩm ngẩm” và hiểu nghĩa là lầm lì, ngồi im không nói. Bản Tăng Hữu Ứng chép là 浸試 thì có thể đọc là “thấm thía”. Bản Liễu Văn đường khắc là 𠸬𠶀 thì không chuẩn nên có thể đoán đọc là “tẩm thấm”. Thơ của Tô Thức có câu “Ưu du tẩm tí nhi thâm giao chi” 優游浸清而深交之 (Ung dung tẩm tẩm thấm dần mà kết bạn thân với nhau). Các bản quốc ngữ cũng mỗi bản chép một khác: Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, Tản Đà ghi là “thấm thía”; Hồ Đắc Hàm, Bùi Khánh Diễn ghi là “ngẫm nghĩ”.
[45]
Tiếng cổ, nghĩa là giãi bày. Ca dao: “Cá buồn cá lội tung tăng, Em buồn em biết đãi đằng cùng ai”. Ở đây “đãi đằng” có nghĩa là điều ra tiếng vào của những người khách chơi.
[46]
Ở đây có nghĩa là khoan tâm, thư tâm.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]