Má hồng phận mỏng, tơ mành trăm mối vò bông;
Dặm liễu đường khơi, lệ ngọc đôi hàng giỏ giọt.

Về đi thôi, ở không được thì về;
Tốt đâu được, xấu đã qua ấy tốt.

Nhớ cô xưa:
Tính nết nhu mì;
Dong trang chải chuốt.

Quê nhà Phú Lộc, buổi thần hôn xa cách, cỗi xuân huyên nhờ anh nọ đỡ nâng;
Quán chợ Diên Sinh, đường thương mãi khó khăn, bầu sen cúc giúp chị kia đong rót.

Trao hồng tuyến cũng nhờ tay nguyệt lão, dan díu dây đằng sợi cát, hỏi loan phòng mình nối gót thứ ba;
Lựa chu môn đà mở mặt phong trần, thẩn thờ gió trúc mưa mai, thăm lịch giáp tuổi đứng đầu hăm mốt.

Nền quan dạng ăn chơi đã đủ, nào chè tầu, nào thuốc lá, lửa càng nồng, hương càng đượm, bốn năm tròn rành trong ấm ngoài êm;
Thú quê mùa nương náu cũng quen, khi bầu đất, khi khoai bông, ít thì đủ, nhiều thì no, sáu tháng lẻ ngỡ đầu đi đuôi lọt.

Chỉ vì nổi giọng vượn kêu rầu rĩ, cầm dao cắt ruột, thiệt thòi thay phận gái long đong;
Lại nghe thêm tiếng sư hống hãi hùng, bốc lửa bỏ tay, thêm thắt lắm miệng người ton ngót.

Khéo léo nhỉ bẻ măng nhờ trận gió, ngày mười hai đã tối [...].

Hát cửa đình cũng lánh tiệc no say;
Mưu đàng điếm luống gây điều chua xót.

Mảng tìm tõi đuốc đèn tức khắc, cậy láng giềng theo gót, tăm hơi đã tỏ, của đền công đòi tiền bạc cũng cam;
Sẽ tính toan bầu gánh bấy giờ, mướn hầu tớ đưa chân, ân ái có ngần, lời kết nghĩa trỏ đá vàng cho trót.

Băng nghìn dặm viếng thăm bác mẹ, ví lâu ngày giầy kén, nghĩ nhân tình hết dại thì khôn;
Giữ một lòng nhắn nhủ chị em, dàu thăm ván bán thuyền, nếm thế vị từng cay mới ngọt.

Thương ôi!


Bài này của một ông làm quan ở kinh, lấy một cô gái tên là Ngọt làm nàng hầu thứ ba. Ở được bốn năm, rồi bị nhiều sự khó chịu, không thể ở được, cô phải trốn về, nên ông làm bài này dùng vần “ngọt”.

Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 161, tháng 4-1931