Than rằng:
Cõi ca tụ phỏng nợ trần chẳng mấy, một trăm năm là hạn có bao nhiêu;
Cơ tử sinh dường giấc mộng như không, nghìn muôn kiếp dẫu tìm khôn có thấy.

Chồi tang hiu hắt, giọt thẳm treo ngành;
Gốc tử phất phơ, rêu sầu bám rễ.

Đào Nam quốc thuở vẻ vang nhị thắm, dây hồng trùng trập cửa Hiên Khâu;
Dây Long Trung khi vun vén lá xanh, tay trắng dựng lên nền Phạm Ý.

Chí trượng phu vùng vẫy nên trai;
Mặt hào kiệt sum vầy lắm kẻ.

Lòng tự ái rảy sương tưới móc, phúc nhuần một cõi mạo nghê;
Cửa khoan dung lách mận chen đào, khách đổng bốn phương hồ thỉ.

Buổi trần ai đã vẽ mặt công hầu;
Cơn truân kiển lại ra tay dũng trí.

Trùng nhiễu kể mấy phen binh hoả, dẹp lá cờ êm chăn chiếu lê dân;
Tứ lân từng lắm trận thỉ kim, vẫn mũi bút mở cõi bờ tử lý.

Đất Sơn Tây đà nổi tiếng hùng hào;
Ngòi Phong Dĩ lại dám mưu tôn tử,

Cao thấp đặt nhờ Tần Tấn, lộc đấu thăng mừng rạng dấu hoàng cư;
Đêm ngày mở cửa Thi Thư, tài miệt tuyến uốn theo nghề bút chỉ.

Cõi thọ mong toán hạc thẻ rùa;
Cơ trời phút nương dâu bãi bể.

Gốc cù mộc bởi đâu cơn gió thổi, sẩy khiến chia gương rẽ gối, lẻ dây cầm thêm tủi phiếm loan hoàng;
Vóc linh xuân bỗng nên nỗi sương pha, những màng trỏ núi thề sông, giở gót ngọc đã chơi miền vân thuỷ.

Ôi!
Hoa rơi sườn núi, lũ bướm bâng khuâng;
Nguyệt lặn đầu non, chiếc nhàn lẻ thẻ.

Hai quế đã một ngành sương tuyết, người tiết nghĩa nghĩ con thay việc nặng, đá vọng phu mồ hôi chẩy nên mòn;
Ba năm dồn đôi gánh cương thường, lũ cô ai xót cháu chất niềm riêng, non chiêm phụ nước mắt rơi đã mẻ.

Vó câu giẵm đứt lưới huyền cơ;
Cánh hạc liệng qua vòng hắc thế.

Chạnh cây rễ với nước nguồn càng thấm thiết, quê chợ những khơi chừng viếng hỏi, lũ biểu tôn thêm rạo rực sầu tràng;
Màng chữ trung nên đường hiếu những khuây nguôi, vạc chuông là bao nả bù trì, làn bán tử luống ngập ngừng châu lệ.

Cảm công da tóc giấc lẫn mơ màng;
Khắp mặt trẻ già lòng càng rầu rĩ.

Cơn hoãn cấp kẻ ngong chừng cố vũ, khoán ước xưa nay muôn kiếp còn in;
Buổi vãng lai người trông lối tràng sa, công đức ấy dẫu nghìn thu như vẽ.

Thôi đừng bàn bạc sự âm dương;
Thôi chớ thở than lời khoát khế.

Cũng đã biết ký quy là mệnh cả, ngoài sáu chục cổ xưng bất yểu, dám chê con tạo hẹp hòi đâu;
Nhưng thương vì táng tế gặp phen này, trải hai thu lễ tạm tòng quyền, sẽ tưởng cái bần ngao
Ngán nhỉ.

Nay:
Tổ đạo rước xe;
Trung đồ đặt tế.

Đâu xiết kể muôn sầu nghìn thảm, chữ nôm na xin kêu với quỷ thần;
Gọi là dâng vị nhạt mùi suông, niềm kính tín xin thấu cùng thiên địa.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 118, tháng 6-1927