Than rằng:
Ngoài năm phục buộc vào thể phát, đức cao sâu ghi một kiếp phù sinh;
Phách trăm năm mang lại Bồng Hồ, sầu cũ mới chất đôi hàng giao lệ.

Bụng tan hợp ngán kiếp bèo mây;
Phút rụng rơi buồn cơ dâu bể.

Xảy thuở đào hồng chen lớp, nụ hoa thẹn gió ngại trăm phần;
Chưng khi lan quế mượt màu, cành điện nhờ xuân đua mọi vẻ.

Vững nền phúc thọ vẫn còn lăm;
Đóng cửa âm dương sao gấp nhẽ.

Buổi trước ngập ngừng non Hỗ chếch, ngoài mười thu còn cỏ lấp sương vùi;
Ngày nay đau đớn khóm huyên tàn, trong một tiệc luống hương xan nước xẻ.

Ruột tằm bối rối khúc nào xong;
Con nhện băn khoăn tình xiết kể.

Kẻ mong thả thơ đào duềnh biếc, cánh loan hoàng chưa vấn vít vòng tơ;
Kẻ trót gieo giống ngọc nàng Lam, đàn cầm sắt lại so le mối chỉ.

Đầu thềm gọi nhớ giục hồn quyên;
Trước sối khêu sầu thưa khúc dế.

Cành bồ liễu lơ thơ nơi tĩnh viện, nghĩ dây dưa thêm tủi muộn tình chung;
Ngọn cát đằng phất phảng chốn sương khuê, nhìn chăn gối lại thương mình phận lẻ.

Ôi hoa trôi mặt nước lũ bướm bâng khuâng;
Nguyệt ác sườn non chiếc nhàn lẻ thẻ.

Phen thỏ lạt mơ màng giấc điệp, nghe lẵng thẵng tiếng hàn châm nện nhặt, thu lời khuyên dạy bát thảm đầy vơi;
Lúc ô tà lãng đãng chân hài, thấy lăng băng con cô én dan mau, nhìn lối đi về cơn sầu nặng nhẹ.

Nay, nhân đường tổ rước về; tuần ngu đặt tế.

Hổ hang bấy cửa thưa nhà bạc, chưa chút nhiễm mùi phú quý, việc ba năm ngừng bể hạc non cù;
Lạt lẽo thay rau giản nước vàng, dám rằng phơi vẻ phong lưu, Nôm một bức giãi trời kinh đất nghĩa.


Nguồn: Xuyến Ngọc Hầu - Tác phẩm, NXB Khoa học xã hội, 2006