Than ôi!
Nắng héo cành hoa;
Sóng xiêu cột trụ.

Thời văn minh nên giữ lẽ công;
Tài lão luyện khá thương người cũ.

Năm Quý Dậu tiếng gà gáy giục, thôi tỉnh rồi một giấc hoàng lương;
Tiết Nam phong ngọn gió thổi dồn, bỗng trút cả năm cây đại thụ.

Nhớ các cụ lớn nay:
Trí dũng thông minh;
Khôn ngoan tài ngộ.

Mình trải bốn triều;
Quan trên sáu bộ.

Chức Bình chương đã xứng mặt đại thần;
Tài kinh tế cũng nên tay thạc phụ.

Vận hội gặp cơn mưa gió, lạnh răng nào dám hở môi;
Công hầu say miếng đỉnh chung, lấp miệng cũng vì lớn vú.

Sóng Hoàng hải chẳng yên cũng lặng, lo chi thế ấy thế này;
Nợ tang bồng chưa trả đã vay, khắp cả ngõ kia ngõ nọ.

Trọng xuân trước áo xiêm ràng buộc, mới tế trời theo lễ Nam Giao;
Tháng ba sau xe ngựa dập dìu, lại hầu ngự làm chay Thiên Mụ.

Kiệu hoàng đế đã về trị nước, bảy tám năm mới thấy mặt trời;
Số hưu quan chẳng động tới mình, hai ba tháng tưởng qua luồng gió.

Ai ngờ!
Giông tố bất ngờ;
Mây mưa đánh đổ.

Hội thanh xuân giữa lúc hoa tàn;
Nước Hồng hải gặp cơn sóng vỗ.

Đầu tháng tư đổi tiết, quan toàn quyền chính phủ đã qua:
Chiều mồng tám hội thương, việc hạ lệnh phong bì mới xổ.

Giấy đã khui ra;
Mặt đều thấy rõ.

Từ dưới ông Công;
Đến trên cụ Võ;

Cả thảy năm ngài;
Được về một sổ.

Chữ pháp tử trong tay đã hiểu, cười cũng lỡ cười;
Gương tinh quang trên mặt còn đeo, ngó rồi lại ngó.

Tưởng đã đứng đầu năm tước, tha hồ đề bảng Phước Môn;
Hay đâu đi rập một chiều, hưu lữ trừ quan Thượng Hộ.

Thảm thiết nhỉ, năm mây gần đó, ngẩn ngơ trông năm vẻ rồng cao;
Độc ác thay, một lưới quét xong, may sót lại một con cả nhỏ.

Ừ có chữ “danh thành thân thoái”, kiếp thử sinh chi dám kêu nài;
Tủi vì câu “tống cựu nghinh tân”, chữ bản nhật sao mà khắc khổ.

Ôi thôi thô!
Sĩ chỉ theo thời;
Hành tàng có số.

Máy tạo khôn lường;
Đạo trời cũng ngộ.

Vua đã tha mà phép lại không tha,;
Ta chẳng phụ tại sao người nỡ phụ.

Bước qua năm mới, lối đường cũ nay khỏi gác xe;
Biết có ngày ni, cửa Thần Vũ trước đà treo mũ.

Ngao ngán lên hàng Hiệp Quỵ, một chiếu một mâm;
Thình lình đưa giấy hồi lưu, cả đoàn cả lũ.

Hẹn phải ba ngày bái mạng, giã mai hoè mà vui với cúc tùng;
Hành hay một vị hồi hương, tạ khanh sĩ về chơi cùng thân cố.

Y thường vui gặp hội, áo mũ xưa đã khác tích thì;
Lương đống thiếu chi tài, nhà cửa đó giao về tân chủ.

Đất cũ đãi người mới, cuộc tang thương sao khéo đổi dời;
Âu lâu chán mùi rồi, ơn sơn hải thẹn chưa báo bổ.

Rủi mà được sống lâu lên lão, miệng sau lưng nhiều tiếng khó nghe;
May cũng cho thác trẻ khoẻ ma, khối trong bụng bao giờ cho đủ.

Tuyết trắng đã thay mái tóc, bồng con thơ mà giỡn cho khuây;
Hoa tàn còn đượm mùi thơm, dạo vườn cũ thử chơi cũng thú.

Nhờ ơn nước khi tiệc lớn, năm vài lần quen miếng thịt xưa;
Tính bổng hưu số bạc to, tháng trăm trự còn màu mỡ đó.

Cụ thì dạo chơi sơn thuỷ, cõi Bắc miền Nam;
Cụ thì trở lại gia hương, quê cha đất tổ.

Cụ lo thực nghiệp mà tìm nơi canh khẩn, chơi cùng phường lão phố điền phu;
Cụ thích phiền ba mà ẩn bóng kinh đô, chịu làm kẻ kiều cư khách ngụ.

Tranh tạo hoá hãy còn treo đó, khói phù vân đủ sắc trắng xanh;
Trường diễn ca đã hết lớp rồi, mặt ổi lỗi thay màu đen đỏ.

May trước dắt dìu con rễ, khiến đua bơi mà nối nghiệp nhà.
Mừng nay thong thả tháng ngày, nhờ ăn ngủ càng lên cõi thọ.

Nay sắp tới quan trường chỉnh đốn, nhỏ thì liêm, lớn thì giữ phép, cải lương cho là gánh khanh phu;
Rày khác xưa chính trị mở mang, trên vì nước, dưới cũng vì dân, lâu dài được nhờ ơn Bảo Hộ!

Nay chép vài vần;
Xin mừng các cụ.


Năm 1933, thực dân Pháp cử Pierre Pasquier sang làm toàn quyền Đông Dương. Năm ấy kinh đô Huế có 5 vị thượng thư khét tiếng là Nguyễn Hữu Bài (bộ Lại), Tôn Thất Đàn (bộ Hình), Phạm Liệu (bộ Binh), Võ Liêm (bộ Lễ), Vương Tứ Đại (bộ Công). Năm cụ thờ bốn triều vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại. Vậy mà, sau khi Bảo Đại hồi loan được mấy tháng, tên toàn quyền ấy lại bắt các cụ phải về vườn tất cả, nhường cho các cụ khác vào. Thật là một cuộc chính biến đáng cười ra nước mắt. Bài văn này của một cụ tên là Võ Khải ở đất kinh thành làm, thể hiện nỗi lòng chua chát của các cụ thượng thư trên, cũng như dã tâm của nhà nước bảo hộ và sự bất lực của triều đình lúc đó.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968