Than ôi!
Nước dậy sóng cồn;
Nhà xiêu trụ cột.

Xét tình máu mủ lệ mưa tuôn;
Kề lại đầu đuôi gan lửa đốt.

Ngó cuộc thế anh hùng ghê gớm, thua cái lực mà hơn ở cái tài, việc hơn thua khoan kể làm hai;
Ngẫm cơ trời quân tử lạ lùng, mất là hình mà còn lại là danh, lẽ còn mất phải xem như một.

Vốn đã biết Bắc Nam cùng một nước, ngàn muôn dậm non Hồng biển Lạc, chính khí đầy trời chật đất, nắm xương tàn da ngựa có mà chi;
Nhưng nghĩ rằng sống thác há đôi đường, hai mươi năm góc biển ven trời, hiếu tình ngóng mẹ trông cha, nơi đất tổ đầu hồ gọi là chút.

Nhớ anh xưa:
Quê quán hào hoa;
Cửa nhà trâm hốt.

Nguồn trong núi lặng, đất đúc khuôn thiêng;
Ngọc đẹp vàng tinh, trời cho chất tốt.

Học vấn mắt cùng muôn quyển, tài vẽ vời dệt gấm thêu hoa;
Văn minh soi suốt năm châu, chí hăng hái mài nanh giữa vuốt.

Sân Đông Lỗ theo đòi thi lễ, nối nghiệp gia truyền trung hiếu, nghĩa xuân thu hôm sớm những ôm cầm;
Cõi Tây Âu dồn tới phong trào, đau lòng quốc thổ trầm luân, chí hồ thỉ đêm ngày thắc mắc.

Vào trường bốn năm lần bại Bắc, trằn trọc mười năm gió bụi, giấc phù sinh khoa giáp chửa nguôi lòng;
Đồng tâm ba bảy bạn hoài Nam, nhẹ nhàng nửa gánh gươm đàn, đường du học hướng minh bèn thẳng gót.

Trung Hoa, Nhật Bản, đất nước lưu ly;
Hương Cảng, Hoành Tân, tháng ngày thuê hốt.

Học võ bị để lo phương khôi phục, nào súng, nào gươm, nào khí cơ đạn dược, Đông Kinh, Thượng Hải, trường Lục quân mấy độ truy tuỳ;
Mượn chiến trường mà thử sức trì khu, có cờ, có trống, có mã đội, sư đoàn, Lưỡng Quảng, Vân Nam, đảng cách mạng nhiều phen xung đột.

Quang Phục gây nên hội mới, Sào Nam, Mai Bạng, kẻ hiến tài mà kẻ lại bầy mưu;
Ngoại giao giữ được quyền sang, Vọng Các, Nam Quan, khi mộ xướng lại khi luyện tốt.

Cờ phục Việt phất phơ trước mắt, sực nghĩ tới Tiên tử Long tôn, máu đỏ da vàng, nháo nhác đồng bào mấy triệu, lầm than sao nỡ thế, máu đề quyên lai láng suốt đêm hè;
Giáo cầm Hồ múa máy trong tay, đoái trông lại Hoành Sơn, Quế Hải, rừng vàng biển bạc, mịt mù Tổ quốc ngàn năm thành quách hãy còn chăng, hồn biệt hạc lăm le trên đỉnh cột.

Nào ngờ:
Thế nước còn non;
Vận nhà chưa suốt.

Tức tối lẽ cầm quân Nam phản thệ kích tiếp mặc dầu trang trí, thần linh giúp sức, roi Tổ sinh chưa phỉ bước tung hoành;
Xót thương thay khi trở gót Đông du, cánh xung thiên nông nổi xa vời, ma quỷ đem đường, ngựa Quan thánh khôn dè cơn sảng sốt.

Vì ai nên hùm mạnh sa cơ?
Vì ai để rồng thiêng đổi lốt?

Ngục Hà Nội già gông tất lưởi, lừng lẫy án “Việt cảnh quán thông, đồ mưu bạn nghịch”, sông núi chuyển, Nhạc tướng quân ba chữ kỳ oan;
Trường Bạch Mai kèn trống xôn xao, ngậm ngùi câu “xuất sư vị tiệp, ái quốc hà cô”, quỷ khóc thần gào, Văn thừa tướng đôi hàng tuyệt bút.

Ôi thương ôi!
Khói độc mịt mù;
Lửa oan phùn phụt.

Đá núi Tản muôn trùng chất ngất, hồn vĩ nhân muôn kiếp chưa tan;
Nước sông Hồng nghìn khoảng mông mênh, máu liệt sĩ nghìn thu khó gột.

Hỡi đất, hỡi trời, hỡi giang sơn, hỡi chủng tộc, nói chi nữa, trông mong chi nữa, ngán nỗi mây sầu gió thảm, mắt từ bi mờ mịt lúc tàn canh;
Nào cha, nào mẹ, nào huynh đệ, nào thê nhi, thấy gì đâu, tin tức gì đâu, tuyệt vời nước thẳm non xa, hồn tổ quốc bơ vơ khi gió lọt.

Khí ấy hãy quanh quẩn trong tạo hoá, ắt cũng nhờ trời Việt còn cao, đất Nam còn rộng, cơ chuyển vần sẽ có xui nên;
Thù này xin tạc với non sông, dù đến khi sông Lam hết nước, ngàn Hống hết cây, lòng báo phục vẫn còn sảng sốt.

Trước có xướng thì sau có hoạ, nợ tang bồng phải trả cùng nhau;
Sống là khôn thì thác là thiêng, tình cốt nhục xin soi cho trót.

Ô hô! Thượng hưởng!


Hoàng Trọng Mậu (1874-1916) là một chiến sĩ trong ban chấp hành Việt Nam quang phục hội. Ông được giao phó nhiệm vụ đánh đồn Tà Lùng ở Cao Bằng ngày 13-3-1915, nhưng thất bại vì bất đồng chính kiến với Nguyễn Hải Thần. Ông trốn sang Trung Quốc nhưng bị người Anh bắt ở Hồng Kông và giao cho Pháp giải về giam ở Hoà Lò rồi xử bắn ở đường Bạch Mai.

Bài văn tế này do các đồng chí của ông ở hải ngoại làm để truy điệu, nhưng không rõ tác giả cụ thể là ai.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968