
題潞河驛門樓
潞河河上驛樓前,
日永風淸思豁然。
北望長安纔咫尺,
南曕衡岳隔三千。
四方弧矢初心契,
萬里君親一念懸。
早晩金臺回馬首,
蓬萊峯頂會群仙。
Đề Lộ Hà dịch môn lâu
Lộ Hà hà thượng dịch lâu tiền,
Nhật vĩnh phong thanh tứ khoát nhiên.
Bắc vọng tài chỉ xích,
Nam diêm Hành Nhạc cách tam thiên.
Tứ phương hồ thỉ sơ tâm khế,
Vạn lý quân thân nhất niệm huyền.
Tảo vãn kim đài hồi mã thủ,
Bồng Lai phong đính hội quần tiên.
Dịch nghĩa
Lầu dịch quán Lộ Hà ở bên sông,
Suốt ngày gió mát, khiến tâm tư sảng khoái.
Phía bắc ngắm về Trường An chỉ còn trong gang tấc,
Mặt nam trông núi Hành Nhạc đã cách hơn ba nghìn.
Chí nam nhi bốn phương hồ thỉ nay mới thoả lòng,
Ơn cha ơn vua vẫn nặng một nỗi lòng.
Sớm muộn cũng được quay đầu ngựa dời chốn đài vàng,
Được cùng hội ngộ quần tiên ở đỉnh non Bồng.
題潞河驛門樓
Đề Lộ Hà dịch môn lâu
Đề vách lầu ở cổng trạm dịch Lộ Hà
潞河河上驛樓前,
Lộ Hà hà thượng dịch lâu tiền,
Lầu dịch quán Lộ Hà ở bên sông,
日永風淸思豁然。
Nhật vĩnh phong thanh tứ khoát nhiên.
Suốt ngày gió mát, khiến tâm tư sảng khoái.
北望長安纔咫尺,
Bắc vọng Trường An tài chỉ xích,
Phía bắc ngắm về Trường An chỉ còn trong gang tấc,
南曕衡岳隔三千。
Nam diêm Hành Nhạc cách tam thiên.
Mặt nam trông núi Hành Nhạc đã cách hơn ba nghìn.
四方弧矢初心契,
Tứ phương hồ thỉ sơ tâm khế,
Chí nam nhi bốn phương hồ thỉ nay mới thoả lòng,
萬里君親一念懸。
Vạn lý quân thân nhất niệm huyền.
Ơn cha ơn vua vẫn nặng một nỗi lòng.
早晩金臺回馬首,
Tảo vãn kim đài hồi mã thủ,
Sớm muộn cũng được quay đầu ngựa dời chốn đài vàng,
蓬萊峯頂會群仙。
Bồng Lai phong đính hội quần tiên.
Được cùng hội ngộ quần tiên ở đỉnh non Bồng.
Sách
Tư Trai tập 思齋集 của Kim Chính Quốc 金正國 (김정국, 1485-1541, Triều Tiên), kể rằng anh trai của ông là Kim An Quốc 金安國 (tự Quốc Khanh, hiệu Mộ Trai, 1478-1543, trong sách
Tư Trai tập gọi bằng “bá thị” 伯氏 tức anh trai) năm Mậu Dần (1520) đi sứ tạ ơn nhà Minh, khi về thuật rằng thấy trên vách lầu cổng dịch quán Lộ Hà ở Thông Châu, ngoại thành Yên Kinh, có ba bài thơ của sứ thần An Nam đề. Ba bài thơ này được người Triều Tiên coi là bằng chứng chứng tỏ Việt Nam là một quốc gia văn hiến đồng văn, và được đánh giá là “phong lưu văn nhã” 風流文雅.
Tư Trai tập 思齋集 được khắc in vào năm 1603. Ba bài thơ được làm theo kiểu xướng hoạ cùng một vần, đề mùa hạ năm Giáp Tuất, tức là năm 1514, tương ứng với năm Hồng Thuận thứ 6 triều Lê Tương Dực của Việt Nam.
Cả ba bài đều không có đề tựa, lạc khoản lần lượt là:
- Bài 1: “Giáp Tuất quý hạ, An Nam quốc sứ Hối Trai Nguyễn Lâm Nam Trân” 甲戌季夏,安南國使晦齋阮琳南珍
- Bài 2: “An Nam quốc sứ Nguyễn Hoài Nhất” 安南國使阮淮一
- Bài 3: “An Nam quốc sứ Trương Phu Duyệt ân thần” 安南國使張孚說殷臣
Theo
Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 26 tháng giêng năm Hồng Thuận thứ 5 (1513), nhà Minh sai sứ đoàn sang sách phong vua (Lê Tương Dực) làm An Nam quốc vương và ban cho một bộ áo mũ quan võ bằng da, một bộ thường phục. Ngày 27 tháng 2, vua sai Lại bộ hữu thị lang Nguyễn Trang 阮莊, Hàn lâm viện kiểm khảo Nguyễn Sư 阮瑡 tức Nguyễn Sư Phó 阮師傅 (
ĐVSKTT chép nhầm là Nguyễn Sư Truyền 阮師傳), Lễ khoa cấp sự trung Trương Phu Duyệt 張孚說 sang nhà Minh tạ ơn sách phong và tạ ơn ban mũ áo.
Như vậy có thể tạm suy rằng Hối Trai Nguyễn Lâm Nam Trân chính là Nguyễn Trang, là tác giả bài thứ nhất ở đây; Nguyễn Hoài Nhất là Nguyễn Sư Phó, là tác giả của bài thứ hai; và Trương Phu Duyệt là tác giả bài thứ ba.
Sách
Mộ Trai tập 慕齋集 của Kim An Quốc cũng có chép một bài thơ
Thứ Lộ Hà môn lâu An Nam quốc sứ thần vận 次潞河門樓安南國使臣韻 hoạ ba bài thơ này.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.