Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Nguyễn
6 bài trả lời: 4 bản dịch, 2 thảo luận
3 người thích
Từ khoá: Khuất Nguyên (19) thơ sách giáo khoa (435) Văn học 9 [1990-2002] (58) Văn học 10 [1990-2006] (49) thơ đi sứ (316)
Đăng bởi Vanachi vào 24/07/2005 03:57, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 29/03/2006 08:28

反招魂

魂兮魂兮胡不歸
東西南北無所依
上天下地皆不可
鄢郢城中來何為
城郭猶是人民非
塵埃滾滾汙人衣
出者驅車入踞坐
坐談立議皆皋夔
不露爪牙與角毒
咬嚼人肉甘如飴
君不見湖南數百州
只有瘦瘠無充肥
魂兮魂兮率此道
三皇之後非其時
早斂精神返太極
慎勿再返令人嗤
後世人人皆上官
大地處處皆汨羅
魚龍不食豺虎食
魂兮魂兮奈魂何

 

Phản chiêu hồn

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy?
Đông tây nam bắc vô sở y.
Thướng thiên há địa giai bất khả,
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi?
Thành quách do thị, nhân dân phi,
Trần ai cổn cổn ô nhân y.
Xuất giả khu xa, nhập cứ toạ,
Toạ đàm lập nghị giai Cao, Quỳ.
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di!
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.
Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.
Tảo liễm tinh thần phản thái cực,
Thận vật tái phản linh nhân xi,
Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,
Ngư long bất thực, sài hổ thực,
Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà?

 

Dịch nghĩa

Hồn ơi! hồn ơi! sao chẳng về?
Ðông tây nam bắc không chốn nương tựa
Lên trời xuống đất đều không được
Còn trở về thành Yên thành Sính làm gì?
Thành quách còn đây, nhân dân đã khác
Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo
Ra ngoài thì ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ
Ðứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quỳ
Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc
Mà cắn xé thịt người ngọt xớt
Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam
Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt
Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó
Thì sau Tam Hoàng không hợp thời nữa
Hãy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực
Ðừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa
Ðời sau đều là Thượng Quan
Khắp mặt đất đều là sông Mịch La
Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt
Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây?

 


Chiêu hồn là một bài từ của Tống Ngọc 宋玉, người cùng thời với Khuất Nguyên 屈原. Trong bài có nói Tống Ngọc thương Khuất Nguyên hồn phách sắp tiêu tan nên làm bài từ để gọi hồn cho sống lâu hơn. Nguyễn Du phản lại ý đó, ý muốn nói hồn không nên trở lại cõi trần gian có đầy những kẻ gian ác thâm hiểm.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đặng Thế Kiệt

Hồn ơi! sao chẳng trở về?
Ðông tây nam bắc chở che chốn nào?
Dù đất thấp trời cao chẳng ổn,
Yên, Dĩnh đành lạc lõng như nhau.
Thành đây, dân cũ còn đâu,
Bụi đời mù mịt dơ màu áo xưa.
Ra xe đưa, vào ngồi chễm chệ,
Bàn bạc xem ra vẻ hiền thần.
Vuốt nanh, nọc độc chứa ngầm,
Thịt người cắn xé như đường nuốt ngon!
Hồ Nam kia thấy không trăm xóm,
Toàn những người gầy ốm xanh xao.
Hồn ơi! lối ấy theo nhau,
Ðời Tam Hoàng trước lấy đâu hợp thời.
Thu tinh thần về nơi Thái cực,
Chớ về đây người chực mỉa mai.
Thượng quan thời buổi ai ai,
Khắp trên đất rộng sông dài: Mịch La!
Cá rồng nuốt, sói hùm tha,
Hồn ơi! hồn hỡi! hồn mà làm sao ?

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh

Hồn hỡi hồn sao không về chứ,
Khắp phương trời không chỗ tựa nương.
Lên trời xuống đất hết đường,
Mà thành Yên, Dĩnh chớ mường để chân.
Thành quách thế, nhân dân khác hẳn,
Bụi bay, trông nhơ bẩn áo người.
Vênh vang xe cộ lâu đài,
Dứng ngồi bàn tán sánh vai Cao, Quỳ.
Họ ngoài mặt không thò nanh vuốt,
Cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon.
Hồ Nam kia mấy trăm chòm,
Gầy còm xơ xác không còn thịt da.
Nếu hồn cứ thiết tha lối trước,
Sau Tam Hoàng không được hợp thời.
Chi bằng sớm liệu chầu trời,
Chớ về đây nữa mà người quở quang.
Đời sau họ Thượng Quan hết thảy,
Khắp nơi nơi dòng chảy Mịch La,
Không rỉa, hùm cũng tha
Hồn ơi! Hồn hỡi! Biết là làm sao?

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phân tích bài thơ “Phản chiêu hồn” của Nguyễn Du, qua bản dịch thơ

Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục là ba tập thơ chữ Hán của thi hào dân tộc Nguyễn Du. Bao trùm lên hàng trăm bài thơ là một không gian bao la mênh mông, với bao nhiêu chuyện người, chuyện đời trong mấy nghìn năm lịch sử của Việt Nam và Trung Hoa với một tấm lòng, một cái nhìn nhân hậu, sâu sắc, đúng là “Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như” như Tố Hữu đã viết.

Bài thơ Phản chiêu hồn rút trong Thanh Hiên thi tập mang tính độc đáo như một bài bút chiến sắc bén, chứa chan tinh thần nhân đạo. Thi phẩm này được viết theo thể cổ phong, thất ngôn trường thiên, gồm có 20 câu. Bốn câu đầu nói với “hồn” đừng về nữa vì không còn đường về. Tám câu tiếp theo, nhà thơ nói với “hồn” về một thế giới đau thương: Nhân dân lầm than, cái ác ngự trị. Tám câu cuối khuyên “hồn” phải “sớm liệu chầu trời”, nếu trở về nước Sở lần nữa vẫn không thoát khỏi cái chết thảm khốc.

“Hồn” được nói đến trong bài thơ là Khuất Nguyên, quan đại thần nước Sở, sống vào khoảng cuối thế kỉ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên. Ông để xướng nhiều cải cách tiến bộ nhằm phục hưng nước Sở, nhưng đã bị bọn gian thần gièm pha. Sở Tương Vương đã cách chức và đày ông ra đất Giang Nam. Ông đã nhảy xuống sống Mịch La tự tử. Sau khi Khuất Nguyên chết, Tống Ngọc thương tiếc làm bài “Chiêu hồn” gọi hồn Khuất Nguyên trở về nước Sở. Thi hào Nguyễn Du đã viết 5 bài thơ về Khuất Nguyên “mà bài nào cũng thấm thía” (Hoài Thanh). Tài trí tuyệt vời, tấm lòng thanh cao, tình cảm éo le của Khuất Nguyên đã được Nguyễn Du cảm nhận, chia sẻ với tất cả niềm kính phục và đồng điệu sâu sắc.

Phần đầu bài thơ là một tiếng gọi hồn ai oán. Vừa ai oán vừa van xin. Câu cảm thán cũng là câu hỏi tu từ cất lên như tiếng khóc. Tống Ngọc gọi hồn Khuất Nguyên về làm gì nữa vì khắp 4 phương và 2 phía “lên trời xuống đất” không còn nơi nào cho hồn “nương tựa cả”. Hai chữ “hồn hề!” trong bài thơ chữ Hán điệp lại hai lần như liếng kêu xót thuơng não nùng:
Hồn hỡi hồn sao không về chứ?
Khắp phương trời không chỗ tựa nượng.
Lên trời xuống đất hết đường
Mà thành Yên Dĩnh chớ mường để chân?
Thành Yên, thành Dĩnh đều thuộc nước Sở, nay là tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Thành Dĩnh là kinh đô nước Sở. Hồn đã tuyệt lộ, đã hết đường về. Ngay cả cố quốc, cố đô của Khuất Nguyên cũng chẳng còn đất cho hồn dung thân!

Phần thứ hai, tám câu tiếp theo có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Nhà thơ nói với hồn những nguyên cớ thảm thương, ghê tởm đang diễn ra trên nước Sở.

Thành quách vẫn như xưa. Bụi bay mù trời. “Trần ai” (bụi) là hình ảnh tượng trưng cho một thời loạn lạc, nhân dân đau khổ lầm than:
Thành quách thế, nhân dân khác hản,
Bụi bay, trông nhơ bẩn ảo người.
Hình ảnh bọn nịnh thần được đặc tả bằng những nét rất điển hình lột trần bộ mặt ghê tởm của chúng, sống xa hoa trên xương máu nhân dân nước Sở: “ngựa ngựa xe xe”. Cơ hội, kiêu ngạo “vênh vênh váo váo”. Vô cùng tàn ác, tham lam nhưng đạo đức giả. Chúng chẳng khác nào lũ thú dữ ghê tởm:
Vênh vang xe cộ lâu đài,
Đứng ngồi bàn tấn sánh vai Cao, Quỳ
Họ ngoài mặt không thò nanh vuốt
Cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon
Cao, Quỳ là Cao Dao và Quỳ là hai vị quan giỏi thời Nghiêu, Thuấn xa xưa. Sự lên mặt, hợm hĩnh của bọn nịnh thần bị vạch trần qua một tỉ dụ: “Đứng ngồi bàn tán sánh vai Cao, Quỳ”. Chúng trở thành một loại người-thú rất đáng sợ “vuốt nanh, sừng và nọc độc” nhưng lại gian ngoan, xảo quyệt, lúc nào cũng giấu kín, “không để lộ” mọi thủ đoạn, hành động dã man: cắn xé thịt người, ngọt xớt như đường. Cấu trúc câu thơ bằng nghệ thuật tương phản để tố cáo bộ mặt xấu xa; thủ đoạn thâm độc, hành động tàn bạo của bọn quan lại, bọn quý tộc nước Sở đang trở thành kè thù của nhân dân. “Hồn” vốn thanh cao, trong sạch… làm sao có thể về nước Sở để cùng “sống” với bọn người-thú ấy được. Câu thơ với bao chi tiết hiện thực, với bao hình ảnh dữ dội, biểu thị cái yêu, cái ghét của Nguyễn Du mãnh liệt, chân thành, sâu sắc. Nội dung tố cáo hiện thực được miêu tả một cách hình tượng, hàm súc và gợi cảm. Cả một đất nước đau thương, cả một vùng quê rộng lớn xơ xác. Nhân dân bị áp bức và bị bóc lột đến tận xương tuỷ:
Hồ Nam kia mấy trăm chòm
Gầy còm xơ xác không còn thịt da!
Hình ảnh bọn vua chúa thống trị, bọn nịnh thần và hình ảnh nhân dân được đặt trong thế đối lập đã làm nổi bật sự bất công, vô nhân đạo của một xã hội điêu linh suy tàn mà “hồn không chỗ tựa nương” nữa! Chống lại việc chiêu hồn, chống bài Chiêu hồn là do nguyên cớ như vậy.

Tám câu cuối bài, giọng thơ đi vào chiều sâu tâm tình, khuyên nhủ. Có yêu thương quý mến mới có cách nói đồng tâm, đồng điệu như thế. Sau thời Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế(?) – xã hội lí tưởng, tốt đẹp ấy đâu còn, nếu hồn cứ khăng khăng trở về là “không còn hợp thời nữa” tất sẽ bị người “mỉa mai” chê cười và xa lánh. Hai tiếng “Hồn ơi!” một lần nữa lại được điệp lại, tiếng kêu vang càng trở nên tha thiết, cảm động: “Hồn ơi! Hồn ơi! Nếu theo đường đó thì sau Tam Hoàng, không còn hợp thời nữa…”

Bọn Thượng Quan, Ngân Thượng không chỉ có vài ba người mà hầu như là tất cả. Trên mặt đất không chỉ có một con sông Mịch La mà tất cả mọi dòng sông đều là nơi trẫm mình của những con người đức hạnh, tài ba đang bị xô đẩy vào vòng bi kịch đau đớn. Có nỗi đau nào lớn hơn, quằn quại hơn khi thi hào Nguyễn Du viết:
Đời sau họ Thượng Quan hết thảy
Khắp nơi nơi dòng chày Mịch La
Đâu chỉ có bọn nịnh thần Thượng Quan mà khắp mọi nơi trên nhân gian đầy rẫy cái ác và cạm bẫy giết người. Kết thúc bài thơ là một câu hỏi tu từ đầy ám ảnh. Tính chiến đấu và phê phán càng trở nên mạnh mẽ, sâu sắc:
Cá không rỉa, hùm cũng tha
Hồn ơi! Hồn hỡi! Biết là làm sao?
Câu thơ dịch khá hay, lột tả được hồn thơ nhưng chưa thật đầy đủ nghĩa so với nguyên tốc: “Ngư Long bất thực, sài hổ thực”. “Ngư Long” là cá, rồng, “sài hổ” là hùm, sói- hình ảnh tượng trưng cho cái ác, cho mọi thế lực dã man trên cõi đời! Nhận xét về bài thơ này, thi sĩ Xuân Diệu viết: Cái buổi chiều thu tê tái trong thơ chữ Hán đây, bỗng nhiên có sấm chớp mưa gió bão bùng, có bài Phản chiêu hồn, căm giận trên đầu tóc dựng”. Hầu như bài thơ nào viết về Khuất Nguyên, thi hào Nguyễn Du cũng đều chỉ ra “cái nọc độc” gây ra mọi đau khổ cho nhân dân:
Hồn, nếu thật về, không chỗ ở,
Rắn rồng quỷ quái khắp nhân gian
(Tháng năm xem đua thuyền)
Nhà văn Hoài Thanh nói lên cảm nhận mấy câu kết trong bài Phản chiêu hồn ở đây cũng như ở Truyện Kiều vẫn một cái nhìn rất bi đát và đầy phẫn uất đối với cuộc đởi. Nhưng ở đây cũng như ở Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa nhìn rõ nguồn gốc sâu xa của mọi điều ngang trái” – (Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn).

Phải chăng hạn chế ấy là hạn chế mang tính lịch sử và thời đại? Và người đọc mãi mãi muôn lần kính yêu Nguyễn Du.

Phản chiêu hồn viết về một nhân vật lịch sử, một đề tài lịch sử: Bi kịch của một nhà thơ yêu nước đã xảy ra hơn hai nghìn năm trước, thế mà kì lạ thay, câu thơ của Nguyễn Du vẫn tràn đầy xúc cảm. Không chỉ đất Yên đất Dĩnh, vùng Hồ Bắc, Hồ Nam nước Sở của Khuất Nguyên mà khắp đông, tây, nam, bắc “lên trời xuống đất” hồn “chớ mường để chân”. Không chỉ có một vài tên Thượng Quan tham lam tàn bạo và nham hiểm đó đây, những kẻ “cấu xé người nhai nuốt ngọt ngon”, mà còn đầy thú dữ, cá, rồng, hùm, sói…, không chỉ nhân dân ở mấy trăm chòm vùng Hồ Nam “gày còm xơ xác không còn thịt da” mà hàng triệu người đps đây đang quằn quại trong lầm than đau khổ! Điều đó chúng tỏ những điều Nguyễn Du viết trong bài thơ không phải chỉ là chuyện lịch sử mà còn là vấn đề của xã hội lúc ông đang sống, ở Trung Quốc và cả ở Việt Nam “những điều trông thấy mà đau đớn lòng..”.

Giá trị tố cáo hiện thực gắn liền với tinh thần nhân đạo bao la là cốt cách, là vẻ đẹp bài thơ Phản chiêu hồn. Nhà thơ gọi “hồn” nói với “hồn” không phải lý lẽ nhạt nhẽo và xơ cứng, trái lại bằng những chi tiết hiện thực, những hình ảnh mang ý nghĩa điển hình, vì thế tiếng gọi hồn mới trở nên thấm thía, xúc động. Các câu cảm thán, câu hỏi tu từ đan cài vào nhau, cùng xuất hiện ba lần trong bài thơ đã thể hiện niềm xót thương mênh mỏng, sự căm giận bốc lửa của một trái tim nhân đạo lớn.

Đọc các bài thơ chữ Hán: Quỷ Môn quan, Sở kiến hành, Phản chiêu hồn…, rồi đọc Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, ta càng thêm kính yêu nhà thơ thiên tài của đất nước.

(Thu Huyền)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Hồn ơi! Hồn chẳng về sao
Đông, Tây, Nam, Bắc nơi nào tựa nương
Lên trời xuống đất khôn đường
Mà thành Yên Dĩnh vấn vương nỗi gì?
Thành quách cũ người thì đã khác
Bụi mịt mù y phục bẩn nhàu
Lâu đài xe cộ lau nhau
Sánh mình ngang tựa Cao Quì ghê thay
Ngoài bộ mặt không bày nanh vuốt
Nhai thịt người ngọt xớt như đường
Trăm châu ở đất Hồ nam
Ốm xơ ốm xác gầy còm thảm thay
Hồn ơi hồn nếu quay lối cũ
Sau Tam Hoàng thế sự khác rồi
Thôi thôi sớm liệu về trời
Lại đây chi nữa cho người mỉa mai
Họ Thượng Quan đời nay khắp thảy
Dòng Mịch La tuôn chảy khắp nơi
Cá không đớp, hùm cũng xơi
iết làm sao hỡi! Hồn ơi! Hỡi hồn!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Sai chính tả

Cấu xé người nhai nuốt ngọi ngon.

Ngọt chứ không phải ngọi.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Hồn ơi! hồn hỡi! sao chẳng về?
Không chốn chở che khắp bốn phương
Lên trời xuống đất hết đường
Thành Yên thành Dĩnh vấn vương làm gì?
Thành quách còn, dân thì đổi thay
Áo quần vấy bẩn bụi mù bay
Ngênh ngang xe cộ lâu đài,
Ðứng ngồi bàn tán sánh tày Quỳ, Cao.
Không để lộ vuốt nanh nọc độc
Cắn xé người ngon ngọt không hay
Hồ Nam không thấy mấy trăm châu
Người gầy gò, ai béo tốt đâu
Hồn ơi! theo lối bấy lâu
Thì sau Tam Hoàng còn đâu hợp thời
Sớm trở về Thái Cực, chầu trời
Ðừng lại đây để đời mỉa mai
Thượng Quan sẽ được đời sau
Khắp mặt khắp chốn khác nào Mịch La
Sói hùm nuốt cá rồng tha,
Hồn ơi! hồn hỡi! biết là sao đây?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời