Bình luận nhanh 27

D SaboHôm kia 19:48
Chuyện kể rằng, Lý Bạch một lần du ngoạn đến lầu Hoàng Hạc (một địa danh cực kỳ nổi tiếng). Thấy phong cảnh đẹp quá, cảm hứng dâng trào, ông định múa bút viết một bài thơ để đời lên vách đá để "đánh dấu…
Nguyễn Công Tuấn12/03/2025 08:56
Người xưa vàng hạc cưỡi bay đi, Còn lại nơi này lầu Hạc ghi. Mãi mãi mù mờ đâu mất dạng, Ngàn năm mây trắng vẫn phiêu ghì. Mặt sông phẳng lặng nghiêng cây Hán , Trên bãi mịn bằng Anh Vũ thi. Tự hỏi chiều…
Pham Ha Vu06/12/2024 01:48
Người xưa cưỡi hạc đi đâu Còn đây Hoàng Hạc một lầu còn trơ Hạc vàng đi mất bao giờ Nghìn năm mây trắng lững lờ mênh mông Hàn Dương cây bóng lòng sông Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rờn Lòng quê lai láng hoàng hôn Trên sông khói sóng gợi buồn miên man.
Mại Thái08/10/2024 15:55
& LẦU HẠC VÀNG ************************** Cưỡi hạc người xưa thuở mịt mờ Còn đây lầu Hạc đứng chơ vơ Hạc vàng một đi không trở lại Mây trắng ngàn năm buồn ngẩn ngơ Sông tạnh Hán Dương cây rõ nét Cỏ…
Tôn Thất Minh Đạt21/04/2024 13:29
LẦU HOÀNG HẠC Người xưa đã cưỡi hoàng hạc bay Nay chỉ còn đây hoàng hạc lầu. Hoàng hạc một đi không trớ lại Phiêu bồng mây trắng vạn năm sau. Sông lặng Hán Dương cây rõ bóng Cỏ thơm Anh Vũ mướt một màu. Chiều…
Kha Tiệm Ly19/03/2024 15:23
Dịch HOÀNG HẠC LÂU (1) Ngưòi xưa cỡi hạc vàng đi, Để lầu Hoàng Hạc nơi đây lạnh lùng. Ngàn năm mây trắng mông lung, Vì chim hạc đã bay không trở về! Hán Dương trời tạnh, cây phơi, Bãi xa Anh Vũ cỏ tươi…
Danh Vô29/10/2023 14:44
Bài thơ này chỉ có bản dịch của tản đà là hay nhất.bút pháp của tác giả thật cao minh, thể thơ lục bát của dân tộc Việt Nam có tính truyền cảm rất cao.
Cơm Nguội08/08/2022 12:56
) HOÀNG HẠC LÂU Lầu Hoàng Hạc -Thôi Hiệu- Đường -Dịch thơ: Nguyễn Đức Tiến: Người xưa cưỡi hạc đã về đâu? Mòn mỏi quạnh hiu Hoàng Hạc lầu. Chim quí một đi không trở lại, Mây trắng ngàn năm vẩn vơ đau. Sông…
Đào Văn Nghi01/08/2022 14:14
Dịch thơ: LẦU HẠC VÀNG. Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu. Còn đây Hoàng Hạc chỏng chơ lầu. Một khi chim vút không quay lại. Vạn thuở bồng bềnh mây trắng phau. Sông tạnh cây xanh Dương Hán rạng. Cồn thơm Anh…
Trường Lưu Thuỷ14/02/2022 20:53
Họa: NHỚ LẦU HOÀNG LẠC Người xưa cưỡi hạc lướt xa rồi Để một hoang lầu dấu tịch côi Bởi cánh chim Hoàng không trở lại Nên làn gió bạc phủ mây trôi Sông Yên biếc thẳm, cây lồng bóng Cỏ vũ màu xanh, lá nhạo…

574.54
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
125 bài trả lời: 101 bản dịch, 23 thảo luận, 1 bình luận
113 người thích
Từ khoá: Hoàng Hạc lâu (30) Ngữ văn 10 [2007-2020] (24) thơ sách giáo khoa (673) Văn học 10 [1990-2006] (49)

Đăng bởi Vanachi vào 08/06/2005 12:03, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 20/07/2006 23:50

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

 

Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

Dịch nghĩa

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!


Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 10 giai đoạn từ 2007 (đọc thêm).

Hoàng Hạc lâu ( 30.539,114.301): Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓 là một ngôi lầu được ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu được xem là một trong Tứ đại danh lâu của Trung Quốc (cùng với Nhạc Dương lâu ở Nhạc Dương, Đằng Vương các ở Nam Xương, Bồng Lai các ở Bồng Lai). và là ngôi lầu nổi tiếng được các thi nhân ca tụng. ghềnh đá Hoàng Hạc của Xà sơn bên bờ sông Dương Tử, thuộc thành phố Vũ Hán, huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, vào năm Hoàng Vũ thứ 2 (223) đời nhà Ngô thời Tam Quốc. Đến nay, lầu đã có 12 lần bị thiêu huỷ, 12 lần xây cất lại, mỗi lần lại cao hơn và có nhiều tầng hơn.

Tên gọi Hoàng Hạc của lầu này bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian. Tương truyền Phí Vĩ 費禕 (?-253) tự Văn Vi 文偉, một tu sĩ đắc đạo thành tiên thường cưỡi hạc vàng ngao du sơn thuỷ. Một hôm, tiên và hạc bay ngang Vũ Hán và dừng chân lại trên Xà sơn để nhìn ngắm, một bên là cảnh đẹp hùng vĩ của Trường Giang và bên kia là Ngũ Hồ trong khói sương diễm lệ. Người đời sau đã từ nơi tiên cưỡi hạc vàng bay đi xây lên một tháp lầu đặt tên là Hoàng Hạc lâu. Thời xưa, đây là nơi gặp mặt của các văn nhân mặc khách. Thời Đường (618-907), các thi nhân đến đây để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

Chiến tranh và thời gian đã phá huỷ những kiến trúc của lầu và đều được tái thiết. Lầu nguyên có 3 tầng, vào khoảng niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) bị giặc giã đốt phá, tới niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) tình hình ổn định, lầu Hoàng Hạc mới được xây dựng lại năm 1868 gồm 2 tầng, tầng trên thờ Phí tiên, tầng dưới thờ Lã tiên, gọi là Thanh lâu, nhưng đến niên hiệu Quang Tự lại bị cháy năm 1884. Năm 1957, khi ngôi cầu đầu tiên vượt sông Dương Tử được xây cất, vị trí cũ của Hoàng Hạc lâu bị trưng dụng và các kiến trúc Hoàng Hạc lâu được dời cách vị trí cũ 1km. Tháng 10-1981, Hoàng Hạc lâu được tái thiết và tháng 6-1985 khánh thành. Tháp hiện nay là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc lâu giờ nằm trong Hoàng Hạc công viên, là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc.

Hoàng Hạc lâu
Hình: Hoàng Hạc lâu

Hoàng Hạc lâu
Hình: Hoàng Hạc lâu

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 13 trang (125 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hoàng Hạc lâu

theo em biết ở bản dịch của Khương Hữu Dụng câu thứ ba phải là: "Hạc vàng một đã đi đi biệt"


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Hùng II

Người xưa đã cưỡi chim Hoàng Hạc,
Đất trời lầu Hạc hãy còn đây.
Hạc vàng bay qua không trở lại;
Ngàn năm mây trắng nhở nhơ bay.
Hán Dương sông sáng, cây rõ bóng,
Cỏ thơm Anh Vũ, bãi xanh dày.
Trời chiều quan tái, quê đâu nhi?
Trên sông sóng khói gợi sầu đầy....


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của ThachHuong

Hạc vàng người cũ đã bay xa
Trơ lầu hoàng hạc bóng ai qua
Hạc vàng sải cánh không trở lại
Ngàn năm mây trắng vẫn thướt tha
Hán Dương cây rậm lay bóng nước
Cỏ non Anh Vũ bãi xanh la
Chiều nay quê cũ nhìn đâu thấy
Khói sóng trên sông nhuộm bóng tà


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bình

Bài thơ HOÀNG HẠC LÂU của Thôi Hiệu xưa nay được coi là " tuyệt kỳ bút pháp"...chỉ mấy chữ"tình xuyên phương thảo,nhật mộ yên ba"...với nghệ thuật thơ Đường bậc thầy thì Thôi Hiệu đã mệnh ý hết rồi,thẩm cách xong rồi và phát bút đã là vô tiền khoáng hậu; thế nghĩa là với HOÀNG HẠC LÂU thi sĩ đã đạt tiêu chí" hoàn hảo" khiến cho Đại thi hào Lý Bạch cũng phải cúi đầu nhún nhường"đạo bất đăc"( không nói được nữa !)? Các cụ ta xưa đã từng giảng :
Cái "diệu" của Thôi Hiệu ở chỗ: chỉ 1 câu tả "lầu",còn 3 câu kia đều tả " người xưa"...trong đó câu 1 tả "người xưa",câu 3 là nghĩ "người xưa",câu 4 là ngóng "người xưa",cứ như phớt lờ không nhắc gì đến "lầu". Câu 5-8 tiền giải tả "người xưa",hậu giải tả "người nay",tuyệt nhiên không tả đến "lầu",Thi sĩ chỉ NHẤT Ý TỰA CAO TRÔNG XA,riêng thổ lộ hoài bão của mình.Rồi"hương quan hà xứ thị"(ở nơi này)với cây thì "lịch lịch"(in rõ),bãi thì"thê thê"(tươi tốt),riêng có MẮT thì ngóng "hương quan" là không biết "hà xứ"(nơi nào). Rồi với 2 chữ "nhật mộ"(chập tối lúc chim về tổ, gà vào chuồng) đặt NGANG lên câu thơ làm cho 24 con chữ trong 4 câu tiền giải cùng nhảy múa tạo nên tuyệt tác để "đời sau đừng ai làm thơ về Hoàng Hạc Lâu nữa mà chuốc lấy hổ thẹn "?!


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Về bản dịch của Tản Đà

Nếu nguyên tác của Thôi Hiệu là tuyệt bút thì bản dịch của Tản Đà lâu nay được coi là tuyệt vời ? Tuy nhiên,cái chỗ"còn có để mà bàn"(thảo luận) như chữ"không"(luồng những)trong câu thứ 2,được xem là " thi nhãn"(chữ mắt)thể hiện cái hồn của bài thơ:tâm trạng bâng khuâng,mênh mang.man mác ,buồn hiu hiu da diết ...Tản Đà dịch bằng chữ "trơ" là khá đắt ! Câu 3 "hạc vàng bay đi là thôi không trở lại" mà dịch là "hạc vàng đi mất từ xưa" thì quả là không đạt ?Câu 4 "không du du"(bay lững lờ trên bầu không-trôi mãi mãi)chữ "không" ở đây là "vĩnh viễn"...cũng như câu 5+6 dịch ra tiếng Việt quả thực là rất khó nói hết cái thi trung hữu hoạ,hữu nhạc,hữu hương của nguyên tác ?
 Theo thiển ý của NK thì Cái "gốc"(nguyên nhân,cốt lõi)có lẽ là ở chỗ "thể loại" ?
 Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là viết theo" Luật thi".Đại thi hào Lý Bạch sở dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính ông hiểu rõ Luật thi cam khổ;Còn bản dịch của Tản Đà là "lục bát" (thơ dân tộc) dịch Hán ra Việt để Người Việt thưởng thức cái áng thiên cổ kỳ thi này.Cái "vênh",cái "khó" của DỊCH (chuyển ngữ) là ở chỗ này.Thể thất ngôn bát cú:mỗi câu 7 chữ,rồi từng cặp đôi câu theo phép KHỞI-THỪA-CHUYỂN-HỢP (đối nhau chằm chặp ),chữ MẮT (nhỡn tự) đắc địa ở chỗ nào ? với những Ý mới,tứ lạ,thi cách ra sao ? được chuyển dịch sang lục bát :1 câu 6 dịch câu 7,rồi 1 câu 8 dịch câu 7...nếu không gối chữ,trùm ý(gọi 2=2) THÌ ĐỐ AI DỊCH nổi(chữ=chữ,ý=ý lại lột tả được cái HỒN (cái Thần của thi phẩm).Chao ôi,"dịch là phản" như chơi là thế!
 Ở Tản Đà,có lẽ bản dịch Hoàng Hạc Lâu là đạt hơn cả.Sự đáng châm chước của lối dịch thơ kiểu này(luật thi ra lục bát)là không nên cố chấp"chữ đổi chữ" mà lấy Ý hớp HỒN là chính.Do đó 2 câu kết,Tản Đà dịch là "
      Quê hương khuất bóng hoàng hôn
      Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Xét về ngữ nghĩa,âm điệu (của thơ Việt) thì phải nói là đã đạt mức "tuyệt tác"...ta đọc lên,ngâm nga thấy SƯỚNG hơn cả đọc nguyên tác !?
  Còn về 2 chữ "phương thảo" (cỏ thơm)mà dịch là "cỏ non" là cách nói thông dụng của dân gian đất Việt.
  Dịch ra "Lục bát" là lối dịch "thoát",phải là tay cự phách trong làng thơ như Tản Đà mới có được một bản dịch bất hủ như vậy !


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Về tiểu sử Thôi Hiệu

"Hoàng Hạc Lâu" thuộc hàng đệ nhất Luật thi đời Đường.Tác giả của thiên kỳ thi tuyệt hảo này là Thôi Hiệu(?-754)người Biện Châu(nay là huyện Khai Phong,tỉnh Hà Nam),đỗ Tiến Sĩ năm Khai Nguyên 13(725),làm Quan đến chức Tư huân Viên ngoại lang(cỡ Vụ phó ngày nay-hàm ngũ phẩm).Ông bản tính lãng mạn,ham đánh bạc,rượu chè,thích "của lạ"(thay vợ đến 4 lần).Hồi trẻ thơ ông diễm lệ bóng bẩy;đến cuối đời phong thái cốt cách mạnh mẽ rắn rỏi,sáng tạo tân kỳ có thể theo kịp Giang Yêm,Bão Chiếu.Ông khổ vì ngâm vịnh đến trở bệnh xanh xao hốc hác cả người(hết mình vì làm thơ),Bạn ông đùa nói:"không phải Bác bệnh nó đến như vậy,bởi khổ vì ngâm thơ nên gầy mà thôi !
Ở Thôi Hiệu cho ta bài học : sở dĩ con người ta "thành đạt" là do có TÀI,có CHÍ và gặp THỜI ( ở đây là thời Khai Nguyên-Thiên Bảo rất thuận cho trí thức đi thi đỗ Tiến Sĩ,làm Quan và làm Thơ...tha hồ thi thố tài năng phò Vua,chấn hưng đất nước.)


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hà hoàng

Bóng hạc vàng xưa không còn nữa
Lầu hạc còn trơ những dấu xưa
Hạc vàng bay mãi đi về nơi nao
Mây trắng vẫn lững lờ giữa tầng không
Bên sông Hán Dương cây ngàn rợp bóng
Bãi Anh Vũ cỏ thơm mát đôi bờ
Hoàng hôn xuống mang đầy nỗi nhớ
Quê hương mờ,khói sóng dục khách xa


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

về bài dịch của Nguyễn Đôn Phục& Tàn Đà

*1-Về bản dịch của Nguyễn Đôn Phục:Đây là bản dịch Quốc ngữ vào loại sớm nhất(Nam Phong tạp chí 1923),là bàn dịch đọc khá chối tai (rất trúc trắc)nhưng rất công phu,rất già tay(túc Nho);Công phu ở chỗ: theo sát nhạc điệu của nguyên tác,sát cả ở những chỗ sai niêm,thất luật.Nếu xét theo Nhà dịch thuật nổi tiếng đời Thanh là Nghiêm Phục đã nêu ra  tiêu chuẩn về dịch thuật là phải TÍN,ĐẠT,NHÃ...thì bản dịch của Nguyễn Đôn Phục còn ở mức "thô",chưa Đẹp và Sang như nguyên tác.
*2-Bản dịch của Tản Đà : trái lại,bay bướm nhẹ nhàng,văn chương trầm bổng theo cung điệu lục bát(đượm hồn dân tộc )...in ở Tạp chí Ngày Nay số 80,ngày 10-10-1937.
Tuy nhiên,theo nguyên tác: ở Thôi Hiệu,đó là cái không khí mang mang day dứt,nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người lạc lõng giữa trần gian trong buổi hoàng hôn mà thiên đường (Quê hương) thì đã mù mịt lối về ! Cái không khí ấy đã bị Tản Đà thuần hóa trở nên nhu mì mềm mại,nhẹ nhàng trôi chảy trong dòng Ca dao (lục bát). Cái HAY của Tản Đà là ở chỗ ấy,nó vào hồn Người Việt là vì lẽ ấy;Nhưng nó cũng là cái hụt hẫng khi chuyển thể như thế vậy chăng?


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Về bản dịch của Vũ Hoang Chương

Đến nay đã có trên 50 bản dịch Hoàng Hạc Lâu...nhưng xem ra chỉ có 2 bản là đáng đọc hơn cả-đó là bản của Tản Đà và bản của Vũ Hoàng Chương ( 2 Nhà thơ lớn của Dân tộc ).
Như ta đã biết : Thôi Hiệu,con ngừơiphát ốm vì làm thơ,Thi sĩ đã vận dụng hết mười phần công lực phá vỡ luật thơ thất ngôn,sử dụng 6 thanh "trắc" liên tiếp để "vẽ" lên và gửi vào đấy nỗi lòng (của con người thời đại):
   Hoàng hạc mhất khứ bất phục phản
   bạch vân thiên tải không du du
để đến bậc Thi hào bậc nhất đương thời là Lý Bạch phải  "đạo bất đắc " chịu thua,cúi đầu ra đi...
Còn Thi sĩ Vũ Hoàng...ở Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư, thì "ung dung rút kiếm(nói như Tô Thẩm Huy)là giữa trời thơ,phóng con mắt nghìn đời dõi theo cánh hạc đã mù khơi bay mất mà thong thả dụ dắt nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật ? Đó là 2 câu dịch thực hay của Vũ bay bổng giữa trời aỏ diệu:
   Vàng tung cánh hạc đi đi mãi,
   Trắng một màu mây vạn vạn đời.
một màu vàng lóe lên giữa trời vụt tắt,một màu vàng tung lên rồi vĩnh viễn ra đi,không,bao giờ trở lại,nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và thân phận con người(kiếp nhân sinh).Đọc đến câu cuối "Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi" thì là cả một trời Đường Thi nghìn năm bỗng lay động.Giá như Thôi Hiệu xưa sống lại đọc bản dịch của Vũ thì chắc cũng rất tri âm tri kỷ với " sóng ơi,sầu đã chín,xin người thôi giục"đó là sóng của bể dâu,hưng phế .
  Ta thử đọc lại 2 câu theo âm Hán/Việt :
-Yên ba giang thựơng sử nhân sầu
-Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi !
Sẽ thấy: nội công thâm hậu của Vũ (tài hoa,lao tâm khổ tứ khi dịch):
 Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Nếu đưa chữ "hạc" lên đầu câu :
 Hạc vàng tung cánh đi đi mãi
thì cả một trời thơ lung linh tối sầm lại ?"
Chao ôi, Thi tài là thế-và có lẽ sau Vũ Hoàng...không ai nên dịch lại(Hoàng Hạc Lâu)nữa ?


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Pang De

Người trước bay đâu cùng cánh hạc,
Chốn này trơ lại mỗi lầu không.
Hạc vàng một chuyến không về lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn lượn vòng.
Sông tạnh Hán Dương cây rõ bóng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh nồng.
Chiều buông mắt dõi quê đâu tá,
Khói sóng khơi buồn toả mặt sông.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời

Trang trong tổng số 13 trang (125 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối