題黃鶴樓

昔時鶴已何年去,
千載人從南極臨。
鸚鵡洲前芳草綠,
晴川閣上白雲深。
半簾落日浮江漢,
一片寒流送古今。
滿目關山倍惆悵,
悠悠塵夢十年心。

 

Đề Hoàng Hạc lâu

Tích thì hạc dĩ hà niên khứ,
Thiên tải nhân tùng Nam cực lâm.
Anh Vũ châu tiền phương thảo lục,
Tình Xuyên các thượng bạch vân thâm.
Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,
Nhất phiến hàn lưu tống cổ kim.
Mãn mục quan san bội tù trướng,
Du du trần mộng thập niên tâm.

 

Dịch nghĩa

Ngày xưa chim hạc không biết đã đi năm nào,
Bây giờ có người ngàn năm sau từ miền cực nam đến.
Chỉ còn thấy trước bãi Anh Vũ cỏ thơm xanh mởn,
Trên gác Tình Xuyên mây trắng thấy sâu thăm thẳm.
Nửa vành mặt trời lặn nổi trên giòng Giang Hán,
Một giòng sông lạnh cứ lạnh lùng chảy mãi tự xưa nay.
Nhìn thấy non ải trước mắt mà lòng biết bao buồn bã,
Mộng đời mười năm dằng dặc nay mới thoả lòng ước nguyện.


Bài thơ này lúc tác giả đi sứ sang Trung Quốc.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Phương

Hạc vàng đi mất ngàn năm trước,
Du khách miền nam lại tới đây.
Trên các Tình Xuyên mây trắng ngút.
Trước doi Anh Vũ cỏ xanh đầy.
Trời tà ngả bóng vùng Giang Hán,
Sông lạnh xuôi giòng tự cổ lai.
Xem tỏ nước non ngùi tấc dạ,
Mười năm trần mộng mới từ nay.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Hạc xưa bay tự năm nào
Khách du Nam Việt ngàn sau thăm đài
Bãi thơm Anh Vũ xanh tươi
Gác Tình  Xuyên ngắm mây trời trắng phau
Nắng tà in bóng dòng sâu
Cổ kim con nước chảy mau lạnh lùng
Ngắm xem sông núi chạnh buồn
Mười năm trần mộng thoả lòng ước ao

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời