Bình luận nhanh 1

Minh Chu16/01/2022 15:25
Qua thành Vũ Xương đề lầu Hoàng Hạc (Bên lầu có đình Hồng Táo, núi Phượng Hoàng) Nhớ hạc lầu cô núi Hạc xông, Trên vòm lầu núi mấy tầng chồng. Cửa lầu sóng vỗ sông Xương nguyệt, Rèm động ráng chao gió…

Quá Vũ Xương thành đề Hoàng Hạc lâu

Tư hạc cô lâu khởi Hạc phong
Phong khung lâu hựu sổ tằng khung
Hạm noa ba dạng Xương Giang nguyệt
Liêm hiệp hà dao Hán thụ phong
Câu cổ lương hoàng lô bán xích
Uyển kim mi bạch táo sơ hồng
Phượng sơn tại nhĩ như kham giá
Xuý địch ưng năng học thứ ông

 

Dịch nghĩa

Vì nhớ chim hạc mà ngôi lầu cô đơn vút lên trên núi Hạc
Trên vòm lầu núi lại còn thêm cả mấy vòm cao
Trăng Xương Giang nhấp nhô trên sông sát cửa lầu
Gió qua rặng cây bãi Hán Dương lay động bức rèm lấp loáng ráng mây
Ngòi ngự xưa nồi kê vàng lò còn cháy
Vườn thơ nay mày trắng táo chín hồng
Núi Phượng Hoàng gần kia, nếu cưỡi được
Thì tài thổi sáo phải học lão phu này


Hoàng Hạc lâu ( 30.539,114.301): Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓 là một ngôi lầu được ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu được xem là một trong Tứ đại danh lâu của Trung Quốc (cùng với Nhạc Dương lâu ở Nhạc Dương, Đằng Vương các ở Nam Xương, Bồng Lai các ở Bồng Lai). và là ngôi lầu nổi tiếng được các thi nhân ca tụng. ghềnh đá Hoàng Hạc của Xà sơn bên bờ sông Dương Tử, thuộc thành phố Vũ Hán, huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, vào năm Hoàng Vũ thứ 2 (223) đời nhà Ngô thời Tam Quốc. Đến nay, lầu đã có 12 lần bị thiêu huỷ, 12 lần xây cất lại, mỗi lần lại cao hơn và có nhiều tầng hơn.

Tên gọi Hoàng Hạc của lầu này bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian. Tương truyền Phí Vĩ 費禕 (?-253) tự Văn Vi 文偉, một tu sĩ đắc đạo thành tiên thường cưỡi hạc vàng ngao du sơn thuỷ. Một hôm, tiên và hạc bay ngang Vũ Hán và dừng chân lại trên Xà sơn để nhìn ngắm, một bên là cảnh đẹp hùng vĩ của Trường Giang và bên kia là Ngũ Hồ trong khói sương diễm lệ. Người đời sau đã từ nơi tiên cưỡi hạc vàng bay đi xây lên một tháp lầu đặt tên là Hoàng Hạc lâu. Thời xưa, đây là nơi gặp mặt của các văn nhân mặc khách. Thời Đường (618-907), các thi nhân đến đây để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

Chiến tranh và thời gian đã phá huỷ những kiến trúc của lầu và đều được tái thiết. Lầu nguyên có 3 tầng, vào khoảng niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) bị giặc giã đốt phá, tới niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) tình hình ổn định, lầu Hoàng Hạc mới được xây dựng lại năm 1868 gồm 2 tầng, tầng trên thờ Phí tiên, tầng dưới thờ Lã tiên, gọi là Thanh lâu, nhưng đến niên hiệu Quang Tự lại bị cháy năm 1884. Năm 1957, khi ngôi cầu đầu tiên vượt sông Dương Tử được xây cất, vị trí cũ của Hoàng Hạc lâu bị trưng dụng và các kiến trúc Hoàng Hạc lâu được dời cách vị trí cũ 1km. Tháng 10-1981, Hoàng Hạc lâu được tái thiết và tháng 6-1985 khánh thành. Tháp hiện nay là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc lâu giờ nằm trong Hoàng Hạc công viên, là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc.

Hoàng Hạc lâu
Hình: Hoàng Hạc lâu

Hoàng Hạc lâu
Hình: Hoàng Hạc lâu



[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Nho Hồng

Nhớ chim, núi Hạc xây lầu
Trên vòm lầu lại vòm cao mấy tầng
Sát lầu trăng sáng Xương Giang
Rèm lay gió thoảng Hán Dương ráng hồng
Nồi kê ngòi ngự cháy bùng
Vườn thơ táo đỏ chín trong nắng vàng
Phượng Hoàng sơn, cưỡi được chăng
Còn tài thổi sáo ai bằng lão phu


14.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Nho Hồng

Nhớ chim cô cảnh dựng ngôi lầu
Trên núi mấy vòm Hoàng Hạc lâu
Sóng nước sông Xương trăng lấp loáng
Rặng cây bãi Hán gió lao xao
Kê vàng nồi cũ lò bùng đỏ
Táo chín vườn nay thơ vút cao
Dãy Phượng gần kia sao cưỡi được?
Xem tài thổi sáo có ai nào!


15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Vút lên núi Hạc một ngôi lầu,
Lầu núi trên vòm mấy tháp cao.
Trăng mọc Xương Giang sông sát cửa,
Hán Dương cây bãi loáng tầng mây.
Kê vàng ngòi ngự lò còn cháy,
Mày trắng vườn thơ táo chín hồng,
Núi Phượng Hoàng kia nếu cưỡi được.
Thì tài thổi sáo học già này.


15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Tú Anh

Nhớ hạc lầu buồn đứng ngẩn ngơ,
Trên lầu mây lặng ngóng xa mờ.
Sông Xương sóng ánh muôn tia nguyệt,
Bãi Hán cây huờ vạn ý thơ.
Ngòi cũ nồi kê đang lửa dở,
Vườn nay mái tóc đã màu tơ.
Tỉ như núi Phượng lên yên được,
Thổi sáo cùng ông khối kẻ mơ.


13.00
Trả lời