Than rằng:
Sống thác ấy chuyện thường trời đất, mở chiêu khép tịch biết bao chừng;
Cha con là đạo cả xưa nay, nối ruột liền lông sao xiết kể.

Nghĩ thôi buồn bã kiếp phù sinh;
Tưởng lại chập chờn cơ mộng sự.

Nhớ nghiêm phụ xưa:
Dấu cũ cơ cừu;
Chí trai hồ thỉ.

Chưng thuở gập ghềnh gió bụi, ghét tiểu nhân vi phú bất nhân;
Quản chi dầu dãi nắng mưa, theo quân tử cố cùng lập chí.

Lòng trời mở vận hồi xuân;
Đất khách dùng phương thọ thế.

Một tỉnh ra tay điều hộ, túi xâm cầm mở rộng đám quan quân;
Ba thu trở gót quy nhàn, vườn quất hạnh mọc đầy nơi cố lý.

Một cù năm cát, cửa đượm khí hoà;
Sáu liễu bốn đồng, sân chen vẻ thụ.

Răn bảo dâu con khi đã mệt, có tễ hữu quy bát vị, sớm khuya cho giáng hoả tư âm;
Chuyện trò khách khứa lúc vừa xong, có pho kim quỹ cẩm nang, ngày tháng để điều vinh dưỡng vệ.

Cuộc lợi danh không so ngắn chọi dài;
Nền phúc lý những giồng nhân đắp nghĩa.

Giọng thù thế dẫu quan trên càng mến, thơ đề châu ngọc vách thơm tho;
Lượng tế nhân dầu đất khách cũng tin, nghĩa trả quỳnh dao người lễ mễ.

Những chắc ba bạn sáu nghìn ngày canh kỷ, lên núi Hoạ với Mao quân hỏi thuốc, để xin phường cải lão hoàn đồng;
Nào ngờ sáu mươi thêm chín lẻ xuân thu, cuối tiết hạ mà thanh sứ vời thư, chưa kịp luyện tràng sinh bất lão.

Xẩy cơ khế khoát thêm buồn;
Kể chuyện gia tình xót nhỉ.

Nhớ kẻ tao khang thuở trước, sao chẳng đợi cùng nhả cùng huyệt, rũ trần ai vội ruổi áng bạch vân;
Thương đàn chăn gối năm sau, đã chút mừng có nụ có hoa, bỏ thơ ấu tót theo miền Xích Tử.

Còn kế thất dẫu đành nền nếp sẵn, nhưng lòng hiếu Mạnh Vương ít có, cánh sương khuê đã chưng ấy lạnh lùng;
Thẹn trưởng nam mau nối vẻ vang xưa, song nhà y khanh tướng dễ du, lời nghiêm huấn lại tự đây văng vẻ.

Người đèn sách theo đòi bể thánh, ngâm câu nga uất thêm buồn;
Kẻ tơ duyên xa cách quê người, cảm nỗi thần hôn lại bẽ.

Ngành thứ hai trồi liều yếu, ngậm ngùi thay mẹ lại thương cha;
Mái đông ba nhánh đào thơ, mếu máo khóc cha thêm nhớ mẹ.

Nghé tan đàn trăm nỗi ủ ê chiều;
Vò nuôi nhện mảnh tình ngao ngán kẻ.

Đoàn nữ tế đầy sân thuở ấy, từ rầy đi dự ngọc biết trông ai;
Lũ nhi tôn quanh gối ngày xưa, bao giờ lại phân cam mà dắt trẻ.

Ôi!
Hoa trôi mặt nước, hồn bướm bâng khuâng;
Ác lặn sườn non, bóng chim lẻ thẻ.

Khi gió thổi bên mành thấp thoáng, kìa sách kìa hòm kìa dao bàn tạc, mất người thang thuốc thảm đầy vơi;
Lúc trăng xuyên trong cửa lờ mờ, nọ màn nọ gối nọ chiếc án thư, tưởng dấu ngồi nằm sầu nặng nhẹ.

Nay:
Ngày tứ nên tang;
Tuần tam đặt tế.

Lời dạy trước chớ xa đừng kiệm, vả lại gặp mùa gian thực, lệ hương thôn chưa lo kịp phen này;
Câu nói xưa được táng làm vinh, vậy nên dạng thói quyền nghi, lòng hoàng giản gọi là dâng lễ ấy.

Than ôi! Thương thay! Kính bui ngõ hưởng.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 123, tháng 11-1927