凶年其四

四月渾疑十月霜,
黍離何處客心傷。
家貧身病年將老,
世亂人窮歲又荒。
朱紱至今無夢想,
白頭依舊半糟糠。
有時劇醉鄰家酒,
便擬高歌作放狂。

 

Hung niên kỳ 4

Tứ nguyệt hồn nghi thập nguyệt sương,
Thử ly hà xứ khách tâm thương.
Gia bần thân bệnh niên tương lão,
Thế loạn nhân cùng tuế hựu hoang.
Chu phất chí kim vô mộng tưởng,
Bạch đầu y cựu bán tao khang.
Hữu thì kịch tuý lân gia tửu,
Tiện nghĩ cao ca tác phóng cuồng.

 

Dịch nghĩa

Trời tháng tư mà sương giá như tháng mười,
Cảnh thơ “Thử ly” ở đâu làm cho lòng người thương cảm.
Nhà nghèo thân ốm tuổi lại già,
Đời loạn, người đói mùa lại mất.
Dải đỏ đến nay không còn tơ tưởng,
Bạc đầu mà tấm cám vẫn lần hồi như xưa.
Có lúc uống rượu say mèm bên hàng xóm,
Những muốn ngâm vang làm kẻ phóng cuồng.


Rút từ Quế Sơn tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Văn Nhĩ

Sương giá tháng tư như tháng mười,
“Thử ly” thi cảm cảm lòng người.
Nhà nghèo, thân bệnh năm thêm lão,
Đời loạn, dân cùng mùa mất rồi.
Đỏ dải dây thao đâu tưởng nữa,
Bạc đầu tấm cám vẫn lần hồi.
Có khi say khướt bên hàng xóm,
Muốn phóng ngâm cuồng một khúc chơi.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Sương giá tháng tư tựa tháng mười,
Vần thơ thêm cảm tấm lòng ai.
Nhà nghèo thân bệnh thêm già khọm,
Đời loạn dân đen phải khổ rồi.
Dải đỏ chẳng còn tơ tưởng nữa,
Cháo rau đành tựa thuở xưa thôi.
Có khi say khước bên hàng xóm
Cũng muốn cuồng ngâm lộng đất trời

Chưa có đánh giá nào
Trả lời