Than rằng:
Đường cái cổ kim đi sinh về tử, nghĩ thôi buồn bã kiếp nhân hoàn;
Cửa con tạo hoá khép tịch mở chiêu, tưởng lại chập chờn cơ mộng thế.

Ba xuân tấc cỏ ngậm ngùi thay;
Một phút ngàn thu ngao ngán nhỉ.

Nhớ từ mẫu thuở vầy vui chuông trống, khuya sớm lưng tần đĩa tảo, đem gương hiếu kính sáng soi nhà;
Cùng nghiêm đường đi gánh vác giang sơn, tháng ngày đồi dữu nương dâu, nẩy mực kiệm cần khuyên dạy trẻ.

Nết công dung mưa chẩy khôn mòn;
Nêu trinh thuận gió lay nào xế.

Trải tám sáu ba đào lận đận, quả cù lao cân hòn núi nhẹ không;
Đủ mười phen chỉ thắm gây dừng, gánh thuỳ dụ nhắc lên vai nặng trễ.

Ngẫm khôn công đành đã vuông tròn;
So phụ đức lại càng vẹn vẽ.

Rễ bàng bấm cũng vun sương bón tuyết, rương thóc lầu tiền xẻ sát, nếp tư cơ nào rẽ phận riêng chung;
Dâu cái đằng cùng sẻ phấn san hương, mảnh chăn chiếc áo ấm êm, trong khuê khổn chẳng sờn lòng cả lẽ.

Bên giường có phúc, ngắm lũ nhi tôn;
Dưới gối thừa hoan, có đoàn dâu rể.

Những ước ba vạn sáu nghìn ngày canh kỷ, áo Lai Ban thấp thoáng chốn huyên đường;
Nào hay bảy tuần có năm lẻ xuân thu, giọt đông lộ pha phôi miền cảo lý.

Ngập ngừng thế lộ những băn khoăn;
Man mác gia linh khôn kể lể.

Đau đớn nhẽ ngoài tám chục bỗng chiếc dây cầm đứt, tuổi tác nặng lòng ân ái, hẹn bách niên đâu đã vội mà sai;
Xót xa thay trong một năm mà hai cỗi huyên tàn, trẻ thơ xiết nỗi bi ai, hận thiên cổ hẳn từ đây luống để.

Vó câu giẵm đứt lưới huyền cơ;
Cánh hạc bay mù doành xích thuỷ.

Ôi!
Hoa rơi sườn núi, đàn bướm trơ vơ;
Nguyệt gác đầu non, chiếc nhàn lẻ thẻ.

Cũng đã biết tử sinh là mệnh cả, coi lại chữ tam đa gồm hết, cõi trần ai đành thoả thiếp trăm phần;
Nhưng thương vì lễ nghĩa gặp phen này, kể tới thơ cửu tự thêm ngừng, ơn sơn hải chưa trả đền một thí.

Ấy ai chừng lãng uyển xa xăm;
Ấy ai khiến đình vi vắng vẻ.

Vị lão mạo đã da mồi tóc bạc, việc nâng khăn sửa túi biết nhờ ai;
Lũ vân nhưng còn hòn máu hạt sương, công vắt sữa nhai cơm khôn cậy kẻ.

Đồng quà tấm bánh cháu mong bà;
Mùi ngọt miếng ngon con nhớ mẹ.

Bến Ngưu Cước sóng thường xô thẳm xuống, cơn ác lặn đứng trông làn sóng, rộn đùn đùn mạch thẳm như khơi;
Chùa Đại Bi chuông những gợi sầu lên, buổi thỏ tà xa lắng tiếng chuông, nghĩ ngời ngợi bụng sầu như xé.

Cơ hoá sinh khi họp khi tan;
Giấc mộng mị lúc vui lúc tẻ.

Nay nhân:
Đường tổ rước xe;
Trung đồ đặt tế.

Muôn nghìn dặm làng mây khôn hỏi, chữ nôm na xin kêu với quỷ thần;
Một đôi lưng rau giản gọi là, niềm kính tín hoạ thấu cùng thiên địa.

Xin cùng ngõ hưởng.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 118, tháng 6-1927