Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Non mở bình phong[1] tám bức vây,
Chợ quê ngày tạnh, lục[2] in cây.
Cá tươi xâu liễu[3] người về kíp,
Rượu chín nồng hoa khách ở chầy.
Điếm nọ cờ còn quấn gió,
Lều kia rèm đã cuộn mây.
Ông nào[4] thổi địch[5] thanh thơi tá?
Cưỡi hạc bay về ngàn núi tây.


Tiêu Tương[6] là nơi sông Tiêu và sông Tương hợp lưu, ở địa phận tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc. Nơi đây có nhiều phong cảnh tươi đẹp. Hoạ sĩ Tống Địch đời Tống đã khái quát toàn bộ cảnh đẹp ở vùng này vào tám bức hoạ, gọi là tám cảnh đẹp vùng Tiêu Tương. Ở nước ta cũng có sông Tiêu sông Tương ở vùng huyện Tiên Du, Đông Ngàn xứ Kinh Bắc. Nay dòng sông đã thu hẹp, song dấu vết vẫn còn.

Chú thích:
[1]
Ý nói núi non dựng lên như một bức bình phong bao vây khắp tám mặt.
[3]
Dùng nhành liễu xâu cá để xách.
[4]
Chỉ ông tiên cưỡi hạc vân du.
[5]
Thổi sáo.
[6]
Tiêu Tương ( 26.253,111.607): Là nơi hợp lưu của hai con sông Tiêu thuỷ 瀟水 và Tương thuỷ 湘水 (hay Tương giang 湘江) để chảy vào hồ Động Đình, và cũng là tên vùng đất ở đây, thời xưa thuộc nước Sở, nay là trấn Tiêu Tương ở địa phận huyện Linh Lăng 零陵, tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc. Sông Tiêu có tên khác là Doanh thuỷ 營水, phát nguyên từ núi Cửu Nghi, chảy đến Vĩnh Châu thì hợp lưu với sông Tương. Sông Tương phát nguyên ở huyện Hưng An, tỉnh Quảng Tây. Ở đây phong cảnh rất thê lương buồn bã, và có nhiều cảnh đẹp, thường được dùng làm đề tài cho thơ và hoạ, như Tiêu Tương bát cảnh 瀟湘八景.

Nơi đây thường là chỗ chia tay để mỗi người đi mỗi ngả, cho nên văn thơ thường dùng trong cảnh biệt ly. Nơi bờ sông Tương xưa kia hai bà vợ ông Thuấn đứng khóc chồng, nước mắt hoà máu rơi vào trúc thành những đốm thâm. Cho nên có chữ “giọt Tương” là giọt nước mắt, “khúc Tiêu Tương” là khúc đàn buồn về nỗi ly biệt.

Khúc sông Tiêu Tương liền với sông Mịch La là nơi Khuất Nguyên đã trầm mình.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]